Lời nói đầu: Bill O'Reilly là nhà báo, sử gia, và là host của chương trình The O'Reilly Factor ăn khách của đài truyền hình Fox. Năm 2011, ông tung ra cuốn Killing Lincoln và nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy trên thị trường sách vở. Killing Kennedy năm 2012 lại được độc giả nồng nhiệt đón nhận.Ông phát hành Killing Jesus và cuốn sách cũng bán chạy không kém. Killing Patton (2014) là cuốn sách mới nhất trong bộ khảo cứu những nhân vật lịch sử của O'Reilly.

Killing Jesus vẽ lại khung cảnh tại Galilê 2000 năm trước khi dân Do-thái nằm dưới ách thống trị của đế quốc Rôma. O'Reilly viết về Chúa Giêsu dưới cái nhìn của một nhà báo, nhà sử học, chứ không phảivới quan điểm thần học. Ngài là Con Thiên Chúa, hơn 2 tỷ người trên thế giới tin như thế, nhưng xin tạm gác thiên tính của Ngài sang bên để nhìn Ngài như một con người đang sống bình thường giữa chúng ta.Mời quý vị nhìn chàng thanh niên Giêsu ở một góc cạnh khác, để hiểu Ngài với cái nhìn hoàn toàn người.

Cần nói thêm là đài truyền hình National Geographic sẽ trình chiếu bộ phim Killing Jesus vào ngày 29/3/2015 sắp tới, đúng vào ngày lễ Lá.


Bêlem, Giuđêa, tháng Ba, năm 5 trước Công nguyên (CN)

Đứa bé chỉ sống 36 năm trên cõi trần đang bị săn đuổi.

Vua Hêrôđê Cả – một người mang dòng máu nửa Dothái nửa Ảrập – ra lệnh tàn sát tất cả các bé trai từ 2 tuổi trở xuống ở Bêlem. Quân lính Rôma không hề biết tên cha mẹ của đứa trẻ là ai, cũng chẳng biết đứa bé ở căn nhà nào, họ chỉ biết phải giết tất cả những đứa trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận. Với ngọn giáo nhọn hoắt, với lưỡi gươm sắc lẻm, đám lính Rôma chân dận xăng-đan, bộ áo giáp che kín đầu và ngực, đạp tung cửa nhà và giật từng đứa bé ra khỏi vòng tay của người mẹ để giết không thương tiếc. Chúng được lệnh giết bằng dao, bằng gươm, hoặc đơn giản bóp cổ cho đứa bé chết ngạt... bất cứ cách nào cũng được, miễn là giết hết, giết sạch, giết tất cả.

Lệnh thật rõ ràng, đứa trẻ sau này trở thành vua dân Do-thái phải chết bằng bất cứ giá nào.

Được hoàng đế Rôma ban chức vương xứ Giuđêa từ thời trai trẻ, Hêrôđê hùng cứ một phương chưa hề có đối thủ. Đối với Hêrôđê, ngai vàng và quyền lực là vật sở hữu của riêng ông; không thể chia sẻ với bất cứ ai. Hêrôđê ra lệnh giết bất cứ ai để mắt đến ngai vàng của ông. Khi đó, Hêrôđê tàn nhẫn đến độ lạnh lùng.Ngay cả đến vợ con ông cũng không tha; ông ra lệnh giết bà vợ đầu Marimane, và sau đó không lâu ra lệnh giết luôn 3 đứa con trai chỉ vì chúng vui mừng khi ông đau yếu và tưởng ngai vàng đã đến tay. Có sách ghi chép rằng ông tàn ác đến nỗi mà Ceasar Augustus – hoàng đế Rôma – nói, "làm con heo trong nhà Hêrôđê vẫn an toàn sinh mạng hơn là làm con ông ta."

Vừa mới nghe ba nhà chiêm tinh nói vua dân Do-thái vừa sinh ra ở Bêlem, và nhờ ngôi sao lạ dẫn đường nên họ mò mẫm đến Giêrusalem trong lòng ông nóng như lửa đốt. Các thượng tế mở Cựu ước và khẳng định giống như 3 chiêm tinh gia, rằng tháng này, ngày này, một đứa trẻ dòng giống của vua Đa-vít sẽ sinh ra và sau này sẽ là vua dân Do-thái. Đối thủ nào Hêrôđê cũng điểm mặt và ra lệnh giết chết. Chỉ riêng lầnnày... lần này, đối thủ của ông là một đứa bé mới sinh, không tên, không rõ căn cước. Một kẻ thù không mặt.

Quân lính Rôma nghe lời ông yêu cầu đã giết hết đám trẻ sơ sinh nhưng không biết nó chết chưa, hay là gia đình nó chạy thoát vào phút cuối. Hoặc giả 3 chiêm tinh gia cùng đám thượng tế đoán sai, đứa bé không sinh ra tại Bêlem mà là ở một ngôi làng khác, không chừng ở ngay tại Giêrusalem này không chừng. Biết bao nhiêu câu hỏi lẩn quẩn trong đầu, Hêrôđê đứng thẫn thờ nhìn mông ra bầu trời Giêsusalem và thoáng thấy một áng mây đen kéo ngang bầu trời đe dọa quyền lực của ông. Ở tuổi 69, chưa bao giờ Hêrôđê lại cảm thấy lo âu đến thế.

Có điều Hêrôđê không ngờ, bé Giêsu và cha mẹ đã đến đền thờ Giêrusalem 2 lần, giữ đúng phong tục của Do-thái. Đền thờ Giêrusalem chỉ cách cung điện của Hêrôđê một đoạn đường ngắn. Kẻ thù không mặtgần Hêrôđê trong gang tấc thế mà ông không hề hay biết gì. Lần đầu bé Giêsu phải chịu phép cắt bì 8 ngày sau khi sinh. Lần hai sau đó 32 ngày – 40 ngày sau khi sinh – để hiến bé vào đền thờ theo truyền thống Do-thái phải dâng đứa con trai đầu cho Giavê. Ông Giuse, bà Maria bồng bé Giêsu vào đền thờ và đây 2 người già từ đám đông rẽ bước tiến lại. Hai người này không hề biết gia đình ông Giuse, lại càng không biết con trẻ tên là Giêsu, và lời nói của họ khiến hai ông bà tin đứa con của mình sau này sẽ gâynhiều sóng gió trong xã hội.

Ông lão tên là Simon. Không hiểu sao ông tin rằng ông sẽ không chết trước khi thấy vị tân vương của dân tộc Do-thái. Ông xin bồng đứa trẻ. Hai ông bà đồng ý. Ông nâng hài nhi và bỗng thốt ra lời cảm tạ Giavê đã cho ông thấy tân vương. Trao bé lại cho bà Maria, ông nói, "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà." Ngay khi ông dứt lời, một bà cụ khác tên Anna, tiến đến gần. Bà lão đã 84, góa chồng. Giavê ban cho bà ơn nói tiên tri. Bà ăn chay, cầu nguyện, hết lòng thờ phượng Giavê. Khi nhìn thấy hài nhi, bà cất tiếng ca tụng Thiên Chúa vì đã ban đứa bé cho thế gian. Bà tiên đoán rằng đứa bé sau này sẽ giải thoát Do-thái khỏi ách nô lệ của Rôma. Cha mẹ hài nhi cau mày chẳng hiểu hết những lời ông Simon và bà Anna thốt ra nhưng tận đáy lòng ông bà chợt dấy lên một nỗi lo âu về số phận sau này của con mình.

Giêsu và gia đình thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Ông Giuse choàng tỉnh sau giấc mộng báo tin phải mang hài nhi sang Ai-cập lánh nạn. Quân lính Rôma theo lệnh tàn sát của vua Hêrôđê đến chậm nửa bước. Đám trẻ sơ sinh bị chết oan, đúng như lời của tiên tri Giêrêmia đã nói 500 năm trước.

Và rồi, hài nhi Giêsu lớn lên trong tình thương của ông Giuse và bà Maria. Cuộc đời chàng thanh niên Giêsu dần dần hiện ra rõ nét, theo đúng như những lời tiên đoán của các tiên tri được ghi chép trong Cựu ước. Chàng trai Giêsu dõng dạc đứng trước đám đông với lời lẽ đi ngược lại truyền thống của Maisen. Lời giảng dạy của chàng cũng khác thường, hoàn toàn mới lạ, và cuốn hút đám đông. Nhưng đối với đám thượng tế, biệt phái, kỳ mục, kinh sư, đám quần thần bù nhìn của Rôma, và nhất là hoàng đế RômaTiberius thì Giêsu là một người cần phải tiêu diệt, vì chính lý thuyết giảng dạy của chàng đã trực tiếp đe dọa đến quyền lực của họ.

Đế quốc Rôma học hỏi kinh nghiệm cai trị của những đế quốc trước đây như Macedonians, Hy-lạp, vàBa-tư. Nó tổng hợp, khai triển, và tinh xảo hóa những hình phạt dành cho dân bản xứ, từ tra tấn đến xử tử. Hình phạt khốc liệt dành cho những kẻ nổi loạn, có âm mưu lật đổ hệ thống chuyên chế của đế quốc Rôma là bị lột trần truồng, đóng đinh cả chân lẫn tay vào hai thanh cây hình chữ thập. Tử tội bị treo trênthanh cây như thế trong đau đớn từ hai cổ tay và bàn chân, máu mất dần cho đến khi kiệt sức. Cơn hấp hối kéo dài vài tiếng là chuyện thường. Vừa xấu hổ, vừa nhục nhã, vừa đau đớn. Không có cái chết nào thảm khốc hơn cái chết bị đóng đinh.

Thế mà Giêsu bị liệt vào hạng nổi loạn, có âm mưu lật đổ đế quốc Rôma và hình phạt bị đóng đinh đang treo lơ lửng trên đầu chàng thanh niên 30 tuổi.

Giêsu Nazarét, một làng nhỏ nơi chàng lớn lên từ thuở bé, một làng vô danh, không một ai hay biết sửa soạn được nhắc đi nhắc lại nơi cửa miệng của dân chúng. Vì chàng thanh niên Giêsu bắt đầu 3 năm giảng dạy một lý thuyết lạ lùng và trực tiếp đụng chạm đến quyền lực của đế quốc Rôma và đám thượng tế Do-thái.

Thung Lũng sông Giodan, Giuđêa, 22 tháng 3, năm 7 Công Nguyên, giữa trưa

Cậu bé chỉ còn sống 23 năm trên cõi đời bị phát giác mất tích.

Hoàng đế Rôma Julius Caesar bị ám sát vào năm 44 trước CN, ngay tại triều Nghị viện Cộng hòa Rôma.Nhóm thiểu số Liberator của Nghị viện dấu dao trong người vây quanh Caesar và đâm chết tươi khi ông vừa ngồi xuống ghế. Tính ra có đến hơn trăm nhát dao trí mạng. Sáu mươi Nghị viên thuộc nhóm thiểu số Liberator đều rút dao găm đâm Caesar tới tấp. Julius Caesar chết với giấc mơ được toàn thể Nghị viện phong chức vương. Người cháu, Octavian, lên ngôi lấy tước hiệu là Caesar Augustus sau khi đánh bại Marc Antony, vị tướng lãnh cầm đầu đội quân hùng hậu của đế quốc Rôma. Đây là thời kỳ thịnh trị nhất của đế quốc Rôma, một trong 5 cái nôi văn minh của nhân loại. Về phía bắc, nó trải dài mãi đến Anh quốc và và chiếm toàn bộ Âu-châu ngày nay, bao gồm Spain về phía tây; riêng phía đông, nó chiếm toàn thể vùng Tiểu Á, và kéo dài mãi đến Thổ và Syria bây giờ; biên giới về phía nam vượt qua Địa trung hải đếnmãi Ai-cập và một phần bắc Phi.

Khoảng năm 4 trước CN, vua Hêrôđê Cả băng bà. Lãnh thổ chia ba cho 3 người con cùng cha khác mẹ; Archelaus trị vì Idumea, Giuđêa, và Samaria; Hêrôđê Antipas cai quản Galilê và Perea; Philíp I làm vua xứ phần đất còn lại phía bắc (Syria & Lebanon ngày nay).



Hằng năm vào dịp lễ Vượt qua, mọi người đổ dồn về Giêrusalem để kỷ niệm ngày Maisen dẫn dân Do-thái ra khỏi đất Ai-cập, thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than. Đây cũng là dịp để sát tế, rũ sạch tội lỗi vì theo niềm tin, một khi máu của súc vật đổ ra làm hiến tế cho Giavê, tội lỗi của mỗi người đều được tẩy sạch.Ông bà Giuse Maria và cậu bé Giêsu cũng theo đoàn người trẩy hội về đền thờ theo đúng truyền thống. Sau 8 ngày, mọi người tất tả quay trở về nguyên quán. Họ đi từng đoàn, gồm những người cùng quê quán hoặc bà con thân thuộc. Đi từng đoàn có lợi là đỡ đần cho nhau, và nhất là tránh nạn cướp bóc dọc đường.Họ nối đuôi thành hàng dài lầm lũi bước, trẻ con bám đuôi cha mẹ, hoặc giả mệt mỏi thụt lại đàng sau thì họ hàng cũng giữ lại, cơm nước, ngủ lều qua đêm rồi ngày hôm sau vượt lên giao lại cho cha mẹ của đứa trẻ. Họ trông chừng lẫn nhau trên suốt quãng đường dài gần 200 cây số.

Đường bộ từ thành Giêrusalem về Nazarét phải đâm sang vùng Perea, bọc theo suốt sông Giodan, gần đến hồ Galilê thì quay sang hướng Tây, rồi đi bộ thêm mấy chục cây số nữa là đến thành Nazarét. Đoạn đường vòng như thế dài 193km, đi mất độ 6 ngày đường. Nếu đi băng qua vùng Samaria thì gần hơn, chỉ dài độ 144km, lợi hơn ngày rưỡi đường nhưng dân Do-thái vẫn chọn con đường vòng. Vì hai lý do. Thứ nhất người Do-thái không muốn dây dưa với người Samaria vì họ luôn xem dân Samaria ở giai cấp thấphơn, cho dù cả hai đều thuộc chi tộc của Giacóp. Họ bị xem là chủng tộc ngoại lai chỉ vì qua bao nhiêu đời làm nô lệ, họ lập gia đình với những người bản xứ chứ không thuần giống như dân Do-thái. Người Do-thái thường gọi người Samaria là dân ngoại là vậy. Thứ hai là vùng Samaria nhiều đồi núi chập chùng, đi lại khó khăn hơn, thảo khấu nhiều hơn, nguy hiểm hơn.

Giuse và Maria đi đường một ngày đường và chợt phát giác không thấy cậu con trai đâu. Ban đầu ông bà không lo lắng gì, vì Giêsu khôn ngoan và ăn nói rất thuyết phục nên chắc mải chuyện trò với bạn bè cùng trang lứa và tụt lại đàng sau. Sáng hôm sau, ông bà cũng chẳng thấy bóng dáng Giêsu đâu. Lòng trí bất an, ông bà đi ngược lại hỏi han từng đoàn người nhưng chẳng một ai thấy cậu bé kể từ lúc rời Giêrusalem.Trưa đứng bóng, ánh nắng gay gắt đổ tràn trên đầu đoàn lữ hành, lúc ấy ông bà thật sự lo lắng, và tin chắc cậu bé Giêsu đã bị bỏ lại Giêrusalem.

Hối hả, ông bà tất tả quay ngược lại Giêrusalem.

Jerusalem, 23 tháng 3, năm 7 CN, xế trưa

Mất một ngày đường mới phát giác con mình bị bỏ lại, Giuse và Maria lộn ngược lại Giêrusalem lại mất thêm một ngày đường. Thế là ông bà để lạc mất con đã hơn 2 ngày.

Trong khi đó, cậu bé Giêsu bắt đầu tỏ lộ về danh tính của mình, đang ngồi chăm chú lắng nghe lời giảng của những người thông thái. Cậu biết cha mẹ cậu đang lo lắng vì không thấy cậu. Chẳng phải cậu là một đứa con ngỗ nghịch, bất tuân lời dạy dỗ nhưng sự ham học hỏi về Giavê, một Đấng Tối cao thôi thúc cậu mãnh liệt hơn bao giờ. Vì thế, cậu mê mẩn nghe những lời giảng dạy đến quên mất ngày về.

Trong khi cậu bình thản ngồi giữa các bậc thầy về Cựu ước, ông Giuse và bà Maria rảo bước khắp đền thờ Giêrusalem để kiếm đứa con bị lạc. Đền thờ rộng mênh mông với diện tích 3 mẫu toàn cột nhà khổng lồ và tường thành trải dài non nửa cây số. Từ Khu Dân Ngoại (Court of Gentiles) ông bà bước qua KhuPhụ nữ (Court of Women) đến Phòng Phung Cùi (Chamber of the Lepers) rồi đứng đối diện với Phòng Chỗ của Trái tim (Chamber of the Place of the Hearth) vẫn chẳng thấy bóng dáng Giêsu đâu. Tình cờ, khi ngang qua Phòng Đá Gọt (Chamber of Hewn Stone), phía ngoài sân không mái che, bà Maria loáng thoáng nghe tiếng con trai mình.

Đúng là giọng của con mình nhưng lời của cậu làm bà khựng lại, bước nhẹ chân. Những lời của cậu giảnggiải về Thánh kinh khiến bà kinh ngạc. Bước đến gần để nhìn cho rõ mặt Giêsu, ông bà lại càng ngạc nhiên đến tột cùng vì cậu con đang ngồi giữa các bậc thầy Do-thái chuyên về Cựu ước mà bàn luận vềThánh kinh. Cái lối vung tay, nét mặt nghiêm trang, giọng nói dõng dạc hùng biện của cậu con khiến ông bà sững sờ. Bà Maria thở phào như trút được nghìn cân đang đè nặng trên lồng ngực. Cuối cùng bà ấp úng, "Này con, sao con lại sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Cậu bình thản trả lời, "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?"

Cái gì? Nhà của Cha con? Bà Maria biết chắc người Cha đây không phải là ông Giuse. Đền thờ này là của Giavê, của Thiên Chúa. Bà nghĩ thầm, nếu con mình nhận là con của Giavê thì đã sao. Toàn thể dân Do-thái không là con của Thiên Chúa đấy sao? Nhưng nhìn ánh mắt của đứa con trai, bà hiểu ngay ý cậu không đơn thuần như thế mà nó mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều. Bà đưa mắt nhìn ông Giuse, và ông khẽ lắc đầu tỏ vẻ không hiểu như bà. Nếu một trong các thầy thông thái nghe câu trả lời của Giêsu chắc chắn không để yên. Một đứa bé tầm 13 tuổi, dám nhận Thiên Chúa là Cha mình theo nghĩa đen thì quả thật lộng ngôn không thể chấp nhận được. Tội lộng ngôn theo luật Maisen là tội chết, bị ném đá cho đến chết.May mắn thay, theo luật cậu Giêsu không bị kết tội lộng ngôn vì tuổi còn nhỏ để hiểu mình nói gì. Nếumột trong các thầy có nghe lời tuyên bố táo bạo của cậu đi chăng nữa, người đó cũng thở phào bỏ qua.

* * *

Giuse và Maria dẫn con ra khỏi đền thờ, men theo lối Jericho về Nazarét. Lần này ông bà nắm chặt tay Giêsu, chắc chắn không để lạc mất con nữa. Lộ trình gần 200km trải dài trước mắt chờ đón cả gia đình.Gần về đến Nazarét, ông bà men theo con đường đất gập ghềnh dẫn vào làng. Ngôi làng nhỏ bé nằm lọt thỏm giữa vùng đồi núi chập chùng miền Galilê, chung quanh chẳng có tường thành bảo vệ hoặc pháo đàinào để chống kẻ gian, quân cướp. Thời đó, nhiều gia đình còn ở chung một căn nhà, hoặc ở cách nhau một cái sân con con, nhỏ hoẻn bằng bàn tay. Chỉ một con suối là nguồn nước uống và giặt gỵa của cả làng. Một con đường mòn hoang phế băng ngang làng cách xa 10 cây số. Dân làng nhờ cậy vào từng vụ lúa mì, trồng ôliu lấy dầu, hành, đậu làm thức ăn quanh năm. Làng Nazarét vỏn vẹn chỉ có thế, nghèo vàthiếu thốn.

Ông bà dạy dỗ cậu bé Giêsu lớn lên theo đúng truyền thống của dân Do-thái. Sớm tối, kinh nguyện Shema cậu đọc hằng ngày, "Hỡi Israel , Chúa là Thiên Chúa chúng ta, Chúa là Một." Cậu đến hội đường mỗi tuần, học hỏi kinh thánh từ những vị bô lão. Giêsu học đọc và viết tiếng Hebrew cũng từ hội đường duy nhất trong làng này. Dưới ách đô hộ của đế quốc Rôma, ý đồ của bọn dân ngoại muốn tiêu diệt nền văn hóa của dân tộc, việc duy trì và tiếp nối truyền thống Do-thái lại càng bức thiết hơn bao giờ. Thởi gian trôi, cậu bé Giêsu đã trở thành một chàng thanh niên cao lớn, vai vuông vắn, chăm chỉ làm việc và hun đúc với đức tin truyền thống được truyền từ thời tổ phụ Abraham. Nghề thợ mộc học từ thân phụ chàng trau dồi đến độ tinh vi. Đức tin của chàng cũng chín mùi dần. Càng lớn, tâm hồn Giêsu càng đắm mình trong tình yêu của Thiên Chúa và chàng tự phát triển tài ăn nói, có sức quyến rũ đám đông.

Nhưng chàng phải rất thận trọng về lời nói. Bất cứ một tuyên xưng công khai nào chàng là Con Thiên Chúa sẽ dẫn đến cái chết trước mắt công chúng. Hoặc giả chàng nhìn nhận là Vua dân Do-thái cũng dẫn đến cái chết khốc liệt hơn – đóng đinh vào cây thập tự – vì hoàng đế Augustus không chấp nhận một thếlực nào ngang ngửa với quyền lực tuyệt đối của đế quốc Rôma.

Cái chết thảm khốc của Giuđa thành Gamala năm ngoái vẫn còn in đậm nét trong tâm trí dân chúng vùngGalilê.

Thành phố Sepphoris, cách Nazarét quãng hơn tiếng đồng hồ đi bộ. Ông Guiđa chống việc đóng thuế cho cấp thượng tế Do-thái. Tội nặng nhất là ông kêu gọi đám nông dân nghèo rớt mồng tơi đừng đóng thuế cho đế quốc Rôma, và nhất là phải nổi dậy chống lại áp bức. Số nông dân theo Giuđa không đông lắm nhưng nếu không dập tắt được sự chống đối ngay từ ban đầu, dần dần nó sẽ trở thành một đạo binh, một đội quân và lúc đó khó có thể lường được hậu quả. Lệnh của Hêrôđê Antipas, tổng trấn xứ Galilê thật rõràng: Guiđa phải chết.

Guiđa thành Gamala bị lột trần truồng ngay giữa sân của quan tổng trấn Antipas. Để răn đe, Antipas cho phép đông dân chúng chứng kiến sự trừng phạt, kể cả 2 đứa con nhỏ của ông Guiđa, Giacóp và Simon.Quân lính bắt ông quỳ, hay tay trói vòng phía trước cột, lộ nguyên cả lưng trần. Luật Do-thái cho phép đánh tội nhân 39 roi (nguyên bản là 40 roi trừ 1). Còn đối với người không-Do-thái thì số lần không hạn định, cứ đánh đến chán thì thôi. Đánh thí đánh nhưng phải giữ sức tội nhân, vì tử tội phải tự vác một thanh cây ngang đến pháp trường, thường là một ngọn đồi bên ngoài Giêrusalem để bị đóng đinh. Roi dùng để quật vào lưng là một phát minh tuyệt xảo của "nghệ thuật" trừng phạt con người. Nó đẩy sự đau đớn thân xác nạn nhân đến tận cùng của sức chịu đựng.



Ngọn roi (flagrum) dài gần hai sải tay gồm cán và những sợi dây da bện vào nhau. Đầu sợi được kết bởi những viên bi sắt, mọc gai lởm chởm. Bên dưới những viên bi là những mẩu xương có móc như lưỡi câu.Lưng là mục tiêu chính nhưng bi sắt và móc xương vẫn có thể đập vào đầu. Nếu tên lính hạ roi xuống thấp, mặt sau của cặp chân lại là mục tiêu. Mỗi lần roi quật vào lưng, bi sắt làm nạn nhân ê ẩm đến tê dại. Mỗi lần tên lính rút roi về, những mẩu xương đều móc theo một mẩu thịt. Máu cứ thế ứa ra. Với sức quật từ trên xuống, những viên bi sắt đập vỡ mạch máu chạy chằng chịt trên lưng, gây chảy máu bên trong.Nạn chân chỉ chịu chừng hai chục roi thì ngất xỉu. Đó là sự đau đớn về thân xác nhưng khổ hình còn cố ýhạ nhục nạn nhân khi bị bêu rếu trước công chúng. Trần truồng, sỉ nhục, đau đớn là hình phạt "độc đáo" dành cho nạn nhân mà đế quốc Rôma tinh chế. Hình phạt cuối cùng là treo tội nhân trần truồng lên caosau khi chân và cổ tay bị đóng chết vào thanh ngang bằng những cái đinh dài cỡ 11.5cm. Mất máu, kiệt sức nhưng nạn nhân không chết ngay. Cơn hấp hối có thể kéo dài hơn tiếng hoặc vài ngày.

Giuđa thành Gamala chết đau đớn như thế.

(còn tiếp)

Hạ Ngôn















Thêm bình luận
Xin các bạn vui lòng tôn trọng người đọc trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết lời bàn. Xin dùng tiếng Việt có dấu. Cám ơn!

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.