Lời nói đầu: Bill O'Reilly là nhà báo, sử gia, và là host của chương trình The O'Reilly Factor ăn khách của đài truyền hình Fox. Năm 2011, ông tung ra cuốn Killing Lincoln và nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy trên thị trường sách vở. Killing Kennedy năm 2012 lại được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Ông phát hành Killing Jesus và cuốn sách cũng bán chạy không kém. Killing Patton (2014) là cuốn sách mới nhất trong bộ khảo cứu những nhân vật lịch sử của O'Reilly.
Killing Jesus vẽ lại khung cảnh tại Galilê 2000 năm trước khi dân Do-thái nằm dưới ách thống trị của đế quốc Rôma. O'Reilly viết về Chúa Giêsu dưới cái nhìn của một nhà báo, nhà sử học, chứ không phải với quan điểm thần học. Ngài là Con Thiên Chúa, hơn 2 tỷ người trên thế giới tin như thế, nhưng xin tạm gác thiên tính của Ngài sang bên để nhìn Ngài như một con người đang sống bình thường giữa chúng ta. Mời quý vị nhìn chàng thanh niên Giêsu ở một góc cạnh khác, để hiểu Ngài với cái nhìn hoàn toàn người.
Cần nói thêm là đài truyền hình National Geographic sẽ trình chiếu bộ phim Killing Jesus vào ngày 29/3/2015 sắp tới, đúng vào ngày lễ Lá.


(tiếp theo kỳ trước)

Galilê, tháng Tư, 2năm 29 CN, ban ngày

Dân chúng vùng Galilê tin Giêsu là đấng Kitô, một vị vua được xức dầu sẽ lật đổ đế quốc Rôma và cai trị dân Do-thái như vua Đavít một nghìn năm trước. Vì thế, quan quân Rôma chú ý nhất cử nhất động của chàng. Bất cứ một hành động nào thách thức quyền lực của Rôma, tội tử hình và hình phạt đóng đinh treo trên cây chữ thập là điều chắc chắn.

Riêng quan tổng trấn Antipas, không tin Giêsu là đấng Cứu thế nhưng đám đông theo chân chàng làm quan khó chịu. Quan tổng đốc Philatô khôn ngoan hơn. Trừ chuyện Giêsu đánh đuổi bọn buôn bán ra khỏi đền thờ, lời nói của chàng chưa hề đụng chạm đến quyền lực của Rôma. Giêsu chỉ nói đến một nước Trời nào đó xa xôi quá, chẳng hề có đội quân hùng mạnh như của đế quốc Rôma. Vì thế, Philatô bàn với Antipas nên chờ thời cơ
.
Nhưng quyền hạn về tôn giáo đã bị va chạm. Đứng đầu các thầy cả thượng phẩm ở đền thờ là Caipha. Thuyết giảng dạy của chàng hầu như đi ngược lại lề luật Do-thái mà Caipha nghĩ là thầy phải duy trì và gìn giữ. Thật ra, đàng sau mớ lề luật mà thầy rêu rao phải bảo tồn chính là nguồn thu nhập từ đền thờ. Caipha sống trên nhung lụa là nhờ vào tiền thu thuế đám nông dân nghèo khổ phải đóng mỗi khi bước vào đền thờ, lợi nhuận từ các bàn đổi tiền, kiếm lợi từ việc bán súc vật để sát tế, chưa kể đến những mẫu ruộng nằm ở ngoại thành Giêrusalem do người nhà của thầy cho nông dân thuê mướn để họ làm quần quật mà trả nợ. Lời giảng của chàng quá mới lạ, và nhất là đi ngược lại luật Maisen hiện hành gần 1400 năm nay. Nếu một cuộc cách mạng võ trang là một mối đe dọa quân sự đến đế quốc Rôma, thì lời rao giảng của Giêsu là một mối đe dọa đến quyền bính thiêng liêng của nhóm Xađốc (Sadducees), biệt phái Pharisêu (Pharisees), các thầy thượng tế và kinh sư tại đền thờ.

Nhưng giết Giêsu thế nào đây? Caipha không dại sai người cầm gươm đến chém một phát chết tốt, hoặc lợi dụng ban đêm đến gần chẹn cổ cho chết ngạt. Không, thầy phải giết Giêsu với bằng chứng vi phạm luật Maisen như tội lộng ngôn chẳng hạn. Như thế, dân chúng Do-thái mới khẩu phục tâm phục.

Bởi vậy, thầy Caipha huy động một đội quân gồm những nhà thông thái về Kinh thánh nhằm "bới lông tìm vết" lời giảng của Giêsu để tìm sơ hở.


* * *

Nhóm Xađốc và Pharisêu thất vọng ngay từ những ngày đầu. Họ không tìm được lỗi gì lớn lao để qui tội chết mà danh tiếng Giêsu ngày càng lan rộng sang các vùng phụ cận. Đám đông bàn tán về chuyện nước hóa thành rượu, và người què được đi, người mù được thấy. Dân chúng đua nhau mang những kẻ tàn tật đến để chàng chữa lành. Họ chỉ bắt được Giêsu phạm luật ngày Sabát khi chàng chữa cánh tay teo quắt của một người đàn ông. Nhưng chàng phản pháo ngay, "Làm việc tốt thì làm sao nói phạm luật được?" Dân chúng đồng tình với chàng. Dân chúng vùng Galilê mến mộ Giêsu hơn khi chàng dùng 2 con cá và 5 ổ bánh mì để cung cấp thức ăn cho hơn 5000 người ở gần Bétsaiđa vào đầu mùa xuân. Bọn họ còn kinh ngạc hơn nữa khi nghe nói Giêsu cho một đứa bé gái đã chết sống lại. Còn số môn đệ của Giêsu còn cho rằng chính họ thấy chàng bước đi trên mặt nước giữa cơn giông bão.

Nhóm Pharisêu từ chối không tin những điều này, cho dù họ thấy những điều đó xảy ra ngay trước mắt. Hàng nghìn nhân chứng khác đều xác nhận những điều họ chứng kiến là sức mạnh, dấu lạ, và điều kỳ diệu. Chữ nguyên thủy gốc Hy-lạp là "pela'oth, othoth, và mophethim", được dịch ra tiếng Do-thái là "dunameis, semeia, and terata." Riêng những người Galilê nói tiếng Aramaic thì thu gọn lại chỉ một chữ, "nes."

Đám Pharisêu không hề tin Giêsu là Thiên Chúa, và cho đó là lộng ngôn. Theo họ, Giêsu chỉ giỏi xách động, một người giả dối, lắm trò bịp bợm. Điều làm họ lo âu là đám đông bị cuốn hút vào những trò xảo trá ngày một đông. Giêsu đang hủy hoại quyền bính của họ, kẻ đại diện thiêng liêng cho cả dân tộc Do-thái gần hai thế kỷ qua. Nếu không chận đứng ngay, trào lưu theo Giêsu sẽ phá hủy đời sống nhung lụa của họ, kể cả giàu sang phú quý và đặc ân cũng sẽ bị mất hết.

Trong khi nhóm Xađốc thiên về chính trị, nhóm Pharisêu – hình thành từ thời Maccabê (145 trước CN) – chú trọng đến đời sống thiêng liêng. Họ tự cho mình là "thánh" hơn hẳn đám nông dân thất học. Nhóm Pharisêu giải thích và gìn giữ Kinh thánh, đồng thời đặt ra hàng trăm luật lệ khác (Truyền thống của Kỳ lão, Tradition of the Elders) nhằm bảo tồn truyền thống Do-thái, ngoài 10 điều răn mà Giavê ban cho Maisen trên núi Sinai. Vì đặt ra luật nên họ thường giữ luật một cách cứng nhắc, máy móc, mà quên đi mặt tinh thần tích cực của lề luật. Vì thế Giêsu thường chỉ trích họ và cho họ là bọn đạo đức giả.

* * *

Một ngày kia, một người Pharisêu chế giễu Giêsu, "Tại sao đám môn đệ của ông chẳng rửa tay trước khi ăn vậy?" Chàng bình tĩnh hỏi ngược lại, "Tại sao coi thường điều răn của Thiên Chúa để cố giữ truyền thống của các ông?"

Tháng Tư đến, ở Galilê các mục đồng lùa gia súc lên những ngọn đồi cỏ mọc xanh rì và nông dân vui tươi sau một vụ mùa lúa mạch. Giêsu và các môn đệ mua thức ăn ở chợ rồi thầy trò ngồi dưới bóng cây để ăn. Chỉ một thoáng, đám Pharisêu vây quanh lấy chàng và luận tội ăn không rửa tay. Người Do-thái rất chú trọng việc thanh tẩy. Họ rửa ráy kỹ càng trước bữa ăn với nghi thức rườm rà; nào là rửa ly, dao kéo, rồi cả hai tay thật cẩn trọng. Nghi thức rửa ráy như thế hợp khi ở nhà, hoặc ở đền thờ với tiện nghi sẵn có, còn chàng và các môn đệ với đời sống du mục thì làm sao giữ được truyền thống thanh tẩy như thế.

Họ bắt bẻ Giêsu về lề luật thì ít, nhưng giăng bẫy rình rập chàng lỡ lời thì nhiều. Họ muốn có bằng cớ, nhất là tội lộng ngôn, để triệt hạ chàng. Nhóm biệt phái Pharisêu đứng nổi bật giữa đám đông với chiếc áo choàng viền tua dệt bằng vải đắt tiền, khác hẳn với đám nông dân và Giêsu ăn mặc giản dị, áo ngoài bằng vải thô. Chàng không hề nhìn nhận quền bính của họ. Giêsu nhìn thẳng vào mắt đám Pharisêu và Xađốc, "Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng thờ phượng Ta trống rỗng, vì chúng giảng dạy toàn là giới luật phàm nhân."

Giọng Giêsu đanh thép. Đám đông nghe chàng rõ mồn một. Đám biệt phái cứ tưởng kết tội Giêsu dễ dàng, không ngờ chàng kết tội ngược lại họ. "Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm." Giêsu tiếp tục khiển trách họ. Nhóm Pharisêu ngượng ngập, bối rối chưa biết phản ứng thế nào thì chàng gằn giọng, "Nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế."


* * *

Đám Pharisêu và Xađốc lặng lẽ bỏ đi vì đứng lại chỉ bêu xấu thêm trước đám đông. Thầy trò kéo nhau vào nhà bên cạnh dùng bữa, để mặc đám đông lẩn quẩn bên ngoài. Tâm trí của các môn đệ vẫn chưa nguôi thắc mắc tại sao thầy mình lại cố tình bêu xấu những kẻ biệt phái. Họ đại diện cho quyền bính thiêng liêng của dân Do-thái. Quyền lực của họ bất khả xâm, và bêu rếu họ công khai chỉ chuốc lấy hậu quả không hay. Một môn đệ lên tiếng, "Thầy có biết họ bị xúc phạm nặng nề không?" Giêsu chưa kịp trả lời thì Phêrô ngắt lời, "Tôi vẫn chưa hiểu thầy nói ô uế là thế nào?" Giêsu thở dài, "Cả đến anh em cũng chậm hiểu đến thế sao? Cái gì ăn đều vào bụng người ta, rồi bị thải ra ngoài. Nhưng những gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế."

Giuđa Iscariốt ngồi ăn và nghe hết lời giải thích của Giêsu. Hắn là môn đệ duy nhất không phải là người Galilê. Khoác áo ngoài, đi xăng-đan giống như các môn đệ khác, nhưng mỗi khi mở miệng, người ta thấy ngay sự khác biệt chỉ vì giọng Giuđa mang âm hưởng miền nam, khác với giọng miền bắc của 11 môn đệ kia. Lúc nào Giuđa cũng kè kè túi tiền một bên, tay cầm gậy để xua đuổi bầy chó chạy rong mỗi khi hắn vào làng mua thức ăn cho cả nhóm. Hắn được đặt để làm quản lý tiền bạc cho cả nhóm ngay từ ngày đầu.

Những tính xấu của con người qua lời giải thích của Giêsu khiến Giuđa giật mình. Bởi vì hắn thường bớt xén tiền bạc của nhóm để dùng vào việc riêng. Khi thấy Maria rưới nguyên cả bình dầu thơm vào chân Giêsu, hắn cứ tặc lưỡi tiếc thầm. Bình dầu thơm quý thế kia bán ra được bộn bạc, bỏ vào túi và hắn sẽ bòn rút được chút đỉnh. Việc mờ ám hắn cứ lo ngay ngáy sợ một ngày bị lộ tẩy. Hắn tự hỏi không biết lời giải thích của thầy Giêsu về tính xấu có phải ám chỉ hắn không.

Giuđa cúi gầm mặt, suy nghĩ đến lời kết tội "ô uế" của Giêsu. Ở Galilê, khi nói đến ô uế, không chỉ nói về con người tội lỗi mà còn ám chỉ một giai cấp thấp hèn nhất trong xã hội. Xã hội Do-thái thường xem những người mắc bệnh phong cùi là ô uế, mạt hạng nhất và gần như bị đẩy sang bên lề xã hội, không được chấp nhận như một thành viên trong cộng đồng. Không, muôn ngàn lần không, Giuđa không hề muốn rơi vào giai cấp ô uế đấy. Hắn tin Giêsu là đấng Kitô, và một ngày không xa, thầy hắn sẽ lật đổ đế quốc Rôma và cai trị dân Do-thái. Mười hai môn đệ sẽ được xem là 12 khai quốc công thần cho một triều đại mới, và Giuđa chắc chắn sẽ nhận được một chức vụ rất quan trọng.

Giuđa sẽ làm bất cứ điều gì để chuyện ấy xảy ra.


* * *

Nhóm Xađốc và Pharisêu tất tả quay lại Giêrusalem để báo cáo với các thầy thượng tế về những việc vừa xảy ra. Xem ra muốn triệt hạ Giêsu không dễ như dự tính, và họ cần một kế hoạc tinh vi hơn để đạt được mục đích. Thầy trò Giêsu rời Capharnaum, đi về hướng bắc đến Caesarea Philippi. Đoạn đường dài hơn 50km, mất hai ngày cuốc bộ.

Mùa hè đang đến gần. Thầy trò bước trên đường nằm dọc theo phía đông của thung lũng Hulah. Gần đến đền Omrít (một thời cống hiến cho hoàng đế Caesar Augustus, người luôn nghĩ mình là một vị thần bất tử), bất chợt, Giêsu dừng chân hỏi các môn đệ; "Người ta nói tôi là ai?" "Họ bảo thầy là Gioan Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại." Chàng lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo tôi là ai? " Phêrô nói ngay không suy nghĩ: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa." Giêsu nghiêm trang bảo, "Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời." Rồi Giêsu nghiêm cấm các môn đệ không được nói điều này với ai.

Các môn đệ nghĩ thầy mình vừa tiết lộ một bí mật động trời, nhưng không, các ông sửng sốt khi nghe Giêsu nói tiếp với giọng đều đều, "Con Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra..." Họ cau mày khó hiểu vì họ tin tưởng một ngày gần đây, thầy của họ sẽ cai trị dân Do-thái. Mà vua dân Do-thái rất cần sự hậu thuẫn của các thầy thượng tế, thế tại sao lại có sự mâu thuẫn xảy ra giữa thầy và các thượng tế? Nhưng chưa hết, họ gần như chết đứng khi nghe Giêsu nói tiếp, "...rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại."

Các môn đệ hoàn toàn không hiểu một chút gì về lời sau cùng của thầy mình. Và họ cũng không hề biết rằng Giêsu thành Nazarét chỉ còn sống không quá 1 năm trên cõi đời.

Giêrusalem, tháng Mười, năm 29 CN, ban ngày

Quan Phongxiô Philatô rong ruổi trên lưng ngựa đến Giêrusalem. Claudia, vợ quan tổng đốc, ngồi trong kiệu với 3000 quân lính tiền hô hậu ủng bảo vệ trên suốt đường đi. Cả đoàn tùy tùng không hẳn là lính Rôma nhưng hỗn hợp gồm quân Ảrập, Samaria, và Syria, một thời theo bảo vệ quan tổng trấn Hêrôđê Cả.

Từ thành phố cảng Caesarea, đoàn người đi dọc theo biển Địa-trung-hải, đến Joppa ngoặt sang hướng đông, đi sâu vào đất liền, băng qua đồng bằng Sharon (Plain of Sharon) vượt vài ngọn núi thì đến Giêrusalem.

Philatô đưa quân lính đến Giêrusalem vào 3 dịp lễ lớn: lễ Vượt Qua (Pesach), lễ Lều (Sukkot), và lễ Ngũ Tuần (Shavu'ot). Tháng Mười là dịp lễ Lều. Dân chúng tuôn về dền thờ đông không thua gì lễ Vượt Qua. Hễ thấy dân Do-thái tụ họp đông đảo thì quan Rôma lại sợ một cuộc nổi dậy. Thì bất cứ triều đại nào xây dựng trên độc tài đều lo sợ đám đông như thế cả. Nếu xảy ra biến động, quan Philatô sẽ đàn áp thẳng tay không thương tiếc. Nhưng quan cũng không dám trừng phạt quá mạnh sợ trái lệnh hoàng đế Tiberius buộc phải tôn trọng "niềm tin thiêng liêng" của dân Do-thái. Năm ngoái, Philatô bị triệu hồi về Rôma chỉ vì một cuộc xô xát xảy ra giữa dân và lính Rôma, khi quan muốn đặt tượng bán thân của Tiberius khắp nơi trong đền thờ, nơi trang nghiêm và linh thiêng bậc nhất.

Năm nay tình hình lại căng thẳng hơn chỉ vì một công trình của Philatô. Quan muốn làm một hệ thống dẫn nước (aqueduct) về Giêrusalem, từ nguồn nước cách xa 35km. Trước đây, vua Hêrođê Cả đã xây một hệ thống dẫn nước ở thành phố cảng Caesarêa, nơi quan có dinh nghỉ mát. Ý thì hay, nhưng quan lại dùng quỹ tiền thánh của đền thờ. Chính vì thế dân Do-thái mới hăm he nổi loạn chống quan. Tiền của đền thờ là tiền để dùng vào việc tu bổ và tế lễ cho đền thờ, không thể dùng vào bất cứ việc gì khác, vì như thế gần như là "phạm thánh". Nên hễ thấy Philatô ở đâu, dân chúng hò hét, la ó phản đối đến đấy. Vì thế, đợt này quan ra lệnh cho quân lính ăn mặc giả dạng dân rồi len lỏi vào đám đông để tìm bắt những tên mang vũ khí, hoặc xách động một cuộc nổi loạn. Cứ thấy đám đông la ó chế giễu quan Philatô, đám lính giả dạng dân ập đến tấn công ngay. Theo sử gia Josephus, "nhiều người dân chết vì bọn lính này, số bị thương chạy trốn... lệnh phải dập tắt sự nổi loạn."

Dân Do-thái xem quan Philatô là một kẻ tàn ác.


* * *

Quan Philatô rất cần sự trợ lực của Jôsép Caipha – thầy cả thượng phẩm thành Giêrusalem – để cai trị dân Do-thái. Caipha nắm giữ quyền lực cao nhất của tòa án hình mang tên Sanhedrin, chuyên xét xử các tội phạm trong dân. Philatô là quan tổng đốc xứ Giuđêa, nhưng Caipha mới chính là người giám sát các hoạt động thường ngày tại Giêrusalem, thường được ngụy trang sự độc ác của thầy bằng cái vỏ tôn giáo và đạo đức. Ít ai biết Caipha, thầy thượng phẩm trịnh trọng với chiếc áo choàng sặc sỡ trong các đại lễ tại đền thờ, lại là bạn thân thiết với hoàng đế Rôma Tiberius.

Thầy thượng phẩm Caipha luôn làm vừa lòng quan tổng đốc Philatô, ngay cả khi quan cắt xén quỹ đền thờ. Caipha vẫn bàng quan khi lính Rôma tàn sát dân chúng trên đường phố Giêrusalem. Thầy chẳng hề phản đối khi Philatô bắt giao trả bộ áo choàng nạm đầy ngọc quý sau mỗi đại lễ chấm dứt. Rôma giữ bộ áo đại lễ để nhắc nhở về quyền hành tối thượng của đế quốc Rôma, và chỉ giao cho thầy 7 ngày trước mỗi đại lễ để thanh tẩy. Caipha học được bài học từ những người tiền nhiệm để giữ vững quyền lực, đừng bao giờ xen vào chuyện nội bộ của Rôma. Bù lại, Philatô đứng ngoài chuyện của đền thờ.

Hiểu nhau như thế, Philatô giữ được chức quan tổng đốc, và Caipha được tăng uy tín và quyền hành của thầy trên đám dân nghèo. Hai người, hai chức vụ và hai dân tộc khác nhau nhưng lại có rất nhiều điểm tương đồng; cả hai đều xuất thân từ giai cấp giàu có qua nhiều đời, đều ở tuổi trung niên và có gia đình, đều thích nhâm nhi một ly rượu vào cuối ngày. Chỗ ở của Philatô tại phố Thượng trong thành Giêrusalem chỉ cách dinh Caipha chưa đến trăm thước, trong nhà đầy nô lệ trai và gái. Cả hai đều mẫn cán trong việc bóc lột tầng lớp nông dân nghèo.



Và điều này chắc chắn Caipha sẽ thực hiện để giữ quân bình nếp sống trưởng giả của cấp thượng tế và đời sống thiêng liêng của dân chúng Do-thái: thầy hạ lệnh bắt sống Giêsu ngay khi thấy chàng đặt chân vào đền thờ.

* * *

Nhưng Giêsu lại có kế hoạch khác.

Thầy trò từ Caesarea Philippi quay trở lại Galilê. Các môn đệ hối thúc Giêsu đi Giêrusalem để tiết lộ căn tính là đấng Kitô, "Dịp lễ đông người là cơ hội để tuyên bố thầy là đấng Kitô cho hàng nghìn người biết." Nhưng Giêsu điềm tĩnh bảo, "Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. Thế gian không thể ghét các anh, nhưng tôi thì nó ghét, vì tôi làm chứng rằng các việc nó làm thì xấu xa. Các anh cứ lên dự lễ đi; còn tôi, tôi không lên dự lễ này, vì thời của tôi chưa chín muồi."
Thế là các môn đệ kéo nhau đi Giêrusalem. Các thầy thượng tế nhớ hầu hết mặt các môn đệ của Giêsu, nên khi tai mắt của các thầy báo cho biết chỉ có các môn đệ chứ không thấy bóng dáng Giêsu đâu, các thầy thở dài thất vọng. Lễ Lều kéo dài 8 ngày, và bất ngờ qua ngày thứ tư, Giêsu xuất hiện giữa đền thờ. Chàng âm thầm đi sau các môn đệ và chẳng một ai biết.

Giêsu rao giảng trong đền thờ về sự thật và lẽ công bằng. Đám đông bám theo chàng. Họ yên lặng nghe lời giáo huấn. Đền thờ khá rộng để tay chân của thầy Caipha giăng bủa khắp nơi họ không sao bắt được chàng. Thật lòng yêu thương Thiên Chúa và những người chung quanh đến từ con tim, đừng từ bởi hình thức giả dối so ra khác với những điều họ được dạy từ thuở lọt lòng. Giêsu nói, "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống."
Sau đại lễ, đám đông lục tục trở về nhà – có thể là Ai-cập, Syria, Hy-lạp, Gaul, hoặc Rôma – và trên đường họ bàn tán về vị cứu tinh của dân tộc Do-thái. Họ phấn khởi nhìn về tương lai khi nghĩ đến một ngày không xa Giêsu sẽ là người đánh bại đế quốc Rôma và họ sẽ không còn phải chịu cảnh "một cổ đôi tròng" vừa đóng thuế cho Rôma, vừa cho các thầy ở đền thờ. Sẽ không còn cảnh quân lính Rôma đánh đập và giết chết người dân dã man. Nhiều người cả quyết Giêsu là đấng Kitô. Những kẻ khác bán tín bán nghi, nhưng viễn ảnh về một tương lai xán lạn thoát khỏi xiềng xích nô lệ nên ai cũng nức lòng tin ngay.

Chỉ có Giêsu mới đưa dân Do-thái ra khỏi cảnh lầm than, giống như Maisen đưa dân thoát khỏi ách nô lệ của vua Ai-cập Pharaôn.

* * *

Philatô quay trở lại Caesarêa, nhưng quan sẽ quay trở lại vào tháng Tư năm sau để mừng lễ Vượt qua với dân Do-thái. Giêsu biến mất khỏi đền thờ thật tài tình, chẳng ai biết chàng đi đâu. Tay chân của đám thượng tế lại nghe đồn thổi về một phép lạ ở làng Bêtania, một thanh niên tên Lazarus được sống lại sau khi chết đã 4 ngày. Người ta nói, Lazarus từ trong mồ bước ra, khăn vải liệm còn quấn khắp người.

Sanhedrin là tòa án tôn giáo tối hậu của dân Do-thái. Thành viên của tòa án có quyền lực hơn cả quan tổng trấn Antipas. Trong tất cả thành viên của Sanhedrin, Caipha nắm giữ quyền lực cao nhất. Các thầy thượng tế thuộc tòa án Sanhedrin họp khẩn, "Người này làm nhiều phép lạ quá. Càng phép lạ thì dân theo càng đông rồi tôn lên làm vua. Nếu không chận đứng, Rôma sẽ gửi quân đến nghiền nát đền thờ và dân chúng." Caipha đồng ý, "Chẳng thà một người chết thay cho cả dân thì hơn." Không một ai lên tiếng phản đối hoặc đồng tình.

* * *

Không biết vô tình hay cố ý, cuộc sống trong 3 năm của Giêsu diễn ra đúng hệt như lời các tiên tri đã viết trước đây cả nghìn năm. Một trong các tiên tri là tiên tri Zêcaria. Sách của ông được viết cách đây 500 năm, trong đó có đoạn, "Vì kìa Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Ðấng Chính Trực, Ðấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa..." Dân chúng Do-thái biết đoạn này, tất cả các thành viên ở tòa án Sanhedrin cũng nhớ câu này. Dĩ nhiên, Giêsu cũng đã đọc đoạn này.

Nếu chàng ngồi trên lưng lừa đi vào thành Giêrusalem giống như lời viết thì sẽ gây ấn tượng lớn lao trên dân chúng. Lời tiên báo của Zêcaria còn nói rõ hơn nữa, "...Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Êpraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất."

Nếu Giêsu muốn làm đúng như lời tiên tri Zêcaria thì dễ quá. Lừa nhan nhản ở xứ Giuđêa. Chàng chỉ cần hỏi một môn đệ là có ngay. Nhưng bản án tử hình đang treo lơ lửng trên đầu chàng. Giêsu cưỡi lừa đi vào thành Giêrusalem là đồng nghĩa với cái chết. Trong sách Thánh và sách các tiên tri (Thánh vịnh 27:12 và 35:11; Micah 5:1; I-sa-i-a 50:6; Thánh vịnh 22:18; Thánh vịnh 22:16, Zêcaria 12:10, và Đệ nhị luật 21:23; Dân số 9:12, Thánh vịnh 34:20, and Xuất hành 12:46; and Zêcaria 12:10) đã viết rõ ràng về cái chết này.

Người sẽ bị vu cáo những tội Người không hề phạm.
Người sẽ bị đánh đòn.
Người sẽ bị nhổ vào mặt.
Người sẽ bị lột trần truồng và quân lính sẽ bốc thăm lấy áo choàng Người.
Người sẽ bị đóng đinh vào thập giá, đinh sẽ đóng xuyên qua bàn tay và bàn chân, nhưng không một xương nào bị đập gãy.
Và những kẻ thương xót Người sẽ không làm gì được để ngăn chặn sự thống khổ.

* * *

Ngày Chủ nhật, mùng 2 tháng Tư, năm 30 CN.

Quan Phongxiô Philatô trở lại Giêrusalem và ngụ tại dinh của Hêrôđê Cả. Quan tổng trấn Hêrôđê Antipas từ Galilê cũng đến Giêrusalem và ở tại dinh Hasmonean, chỉ cách dinh Philatô vài trăm mét. Cùng một lúc, ở phố Thượng, Caipha chuẩn bị cuộc lễ lớn nhất trong năm.

Lễ Vượt qua sửa soạn bắt đầu.

Các môn đệ đang kiếm một con lừa.

Giêsu thành Nazarét chỉ còn sống 6 ngày.

Ngoại Thành Giêrusalem, Chủ nhật, 2 tháng 4, năm 30 CN, xế trưa

Dân chúng từ các nơi tuôn về Giêrusalem. Những con đường đất dẫn đến đền thờ tung bụi mù vì khách hành hương náo nức vào thành để chuẩn bị mừng lễ Vượt qua. Họ lần lượt đầm mình vào mikvot (bồn nước) để rũ sạch bụi đường, đồng thời thanh tẩy để mừng lễ. Dân Do-thái giữ lễ nghi Thanh tẩy (mikvah) rất nghiêm nhặt. Đàn ông giữ thanh sạch nên không ăn nằm với vợ cho đến khi xong đại lễ. Đàn bà có kinh nguyệt không thể dìm mình vào bồn nước để thanh tẩy nên không được đặt chân vào đền thờ. Không được đụng đến các loài bò sát, nhất là xác chết; ngay cả cái bóng của mình cũng không chạm vào xác chết.

Dân chúng càng cẩn trọng với nghi thức thanh tẩy trước khi bắt đầu mừng lễ Vượt qua. Đám đông cẩn thận giữ chặt túi tiền, lẩm nhẩm đếm xem tiền đóng thuế và tiền mua vật sát tế mất bao nhiêu. Họ lo lắng không biết tiền thuế năm nay có tăng không. Nét ưu tư hiện trên nét mặt chỉ thoáng qua rồi biến mất. Họ rũ sạch mọi ưu tư chỉ vì truyền thống của ngày đại lễ, vì bầu khí trang nghiêm của đền thờ. Tất cả dồn cho lễ Vượt qua, mừng ngày Maisen đưa dân Do-thái ra khỏi đất Ai-cập.

Từ trên đồi Ôliu nhìn xuống, Giêrusalem hiện ra sừng sững, huy hoàng và tráng lệ. Vóc dáng bề thế, bức tường mạn đông chạy dọc suốt chân trời lấp lánh trắng và vàng óng, nổi bật trên nền trời. Con đường bụi mù chen chúc người tất tả bước về đền thờ. Nhìn đoàn người hành hương nhẫn nại từng bước theo thang cấp bước lên đền thờ trông như những chú kiến tha mồi về tổ. Lễ Vượt qua đang sửa soạn phần đầu.

"Chúng ta lên Giêrusalem," Giêsu nói với các môn đệ, "Con Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại." Các môn đệ đã nghe những lời tương tự như thế trước đây, lần này họ cũng nghe và chẳng buồn hỏi gặng chàng ý nghĩa thế nào.
Từ lễ Lều sáu tháng trước, thầy trò Giêsu đi một vòng nhỏ quanh vùng. Trạm đầu, thầy trò ghé làng Ê-phra-im, cách Giêrusalem 24km về phía bắc. Thầy trò tiếp tục đi lên mạn bắc, dừng chân biên giới của Samaria và Galilê. Và bây giờ đến lễ Vượt qua, thầy trò men theo sông Giodan, nhập với đoàn người hành hương về đền thờ.
Trên đường đi, bất ngờ Giacôbê và Gioan, con ông Zêbêđê nói, "Xin cho hai anh em chúng tôi, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." Nghe lời xin, 10 môn đệ kia giận dữ muốn nổi điên. Họ theo Giêsu hơn 2 năm nay, bỏ vợ, bỏ mẹ già, bỏ luôn cả việc làm nuôi sống gia đình, nếu tính công thì công của 12 người ngang nhau, có đâu mà 2 người này lại xin hai bên tả hữu, thế còn chỗ đâu cho những người còn lại. Cả 12 môn đệ đều tin một ngày không xa, Giêsu sẽ lật đổ ngai vàng của đế quốc Rôma, và các ông sẽ hưởng giàu sang phú quý. Ngay Phêrô, ông vẫn tin thầy mình sẽ chiêu mộ quân lính nên ông đã chuẩn bị sẵn một cây gươm.

Nhưng Giêsu không hề có ý định gây chiến tranh lật đổ hoàng đế Rôma, cũng chẳng hề muốn lập một triều đại nào ở trần gian này. Chàng gọi các môn đệ lại, ôn tồn bảo, "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." Nói đến thế mà các ông vẫn còn mơ màng trong ý nghĩ vinh quang của ngày đánh bại quân Rôma để khôi phục lại một dân tộc Do-thái hùng mạnh nhất trong vùng. Cũng không trách các môn đệ, vì hầu như những lời giảng của Giêsu đều lồng trong dụ ngôn nên các ông không hiểu rõ; hơn nữa tiếng tăm của Giêsu nổi như cồn sau mỗi phép lạ, dân chúng tôn sùng chàng mỗi khi chữa lành, nhất là lúc cho người chết sống lại. Đi bên thầy Giêsu, các ông hãnh diện lây, và chính cái hào quang đó làm các ông lóa mắt và chẳng hề nghĩ đến cái chết của thầy đang cận kề. Ngay cả lời khuyến cáo về cái chết được nhắc đến 2 lần, thế mà các ông vẫn còn bị vinh quang trần thế mê hoặc.

Đoàn người nhận ra Giêsu. Họ nhập bọn với chàng, nối đuôi thành hàng dài. Ở Jêricô, hai người mù gọi tên Giêsu, "Lạy Ngài, Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương chúng tôi!" Các môn đệ xua đuổi họ, nhưng chàng vẫy họ lại gần và cho họ được thấy. Làng Bêtania chỉ cách Giêrusalem 40 phút đi bộ, và thầy trò trú lại nhà của Lazarô, chị em Maria và Mácta. Đây là trạm dừng chân cuối cùng, và thầy trò sẽ nghỉ đêm lại đây trong suốt tuần đại lễ.

Ngày hôm sau, Giêsu bảo môn đệ, "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi. Nếu có ai hỏi: 'Tại sao các anh cởi lừa người ta ra', thì cứ nói: 'Thầy tôi có việc cần dùng. Xong việc tôi sẽ trả nó về.'"

Hai môn đệ giữ chặt con lừa. Một nắm cương, một lấy áo choàng trải lên lưng lừa làm yên cho thầy Giêsu ngồi. Các môn đệ kia bắt chước lấy áo choàng trải trên đường làm thảm cho lừa bước đi. Lần lượt, khách hành hương cũng lấy áo khoác ngoài trải trên đường. Những người khác tay cầm nhánh ôliu, cành dừa, cành trắc bá đưa lên cao, vung vẩy, bước theo chân lừa. Đúng là một đoàn rước.

Đây là cảnh tượng mà mọi người mong đợi từ lâu. Tất cả xảy ra đúng như lời tiên tri Zêcaria đã viết trong sách Thánh. Một môn đệ hô lớn, "Chúc phúc cho đức vua!" Mọi người la lớn, "Hosanna trên chốn trời cao." Giêsu ngồi trên lưng lừa tiến về Giêrusalem, theo sau đoàn người tiếp tục hô to, "Hosanna, Hosanna." Hai bên đường, đám đông phủ phục xuống đất, "Phúc cho người nhân danh Thiên Chúa mà đến." như lời trong Thánh vịnh 118, thường được hát trong lễ Vượt qua. Giây phút huy hoàng nhất trong suốt 3 năm của thầy trò Giêsu.

Lẫn trong đám đông, nhóm biệt phái Pharisêu không hề cúi đầu như dân chúng, mặt lộ vẻ hằn học. Họ lớn tiếng bảo chàng, "Thầy bảo dân chúng im đi." Giêsu, một lần nữa, từ chối, "Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!"

Dừng chân trên đồi Ôliu, Giêsu nhìn xuống Giêrusalem. Chung quanh chàng la liệt lều vải của những người nghèo không có tiền thuê nhà trọ trong thành. Đồi Ôliu là nơi họ cắm lều trong suốt 8 ngày đại lễ. Nhìn thành Thánh vảo buổi trưa hôm đó, chàng không khỏi chạnh lòng, vì biết rằng chẳng bao lâu sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, dân riêng của Giavê sẽ lưu lạc khắp nơi. Giêsu đến, mang cho họ niềm hy vọng, ơn cứu độ từ trời cao nhưng toàn thể dân chúng vẫn hững hờ. Họ chỉ mong ở chàng một thế lực trần gian. Không lâu, giây phút vinh quang sẽ lắng xuống, lời tung hô "vua dân Do-thái" sẽ trôi vào quên lãng và chàng phải đối diện với cái chết đau đớn và nhục nhã. Thế mà các môn đệ vẫn chẳng để ý gì.

Giêsu đã bảo các môn đệ nhiều lần rằng chàng là Con Thiên Chúa. Họ không hiểu ý nghĩa thế nào là Con Thiên Chúa.

Giêsu nói chàng là đấng Kitô và vương quốc của chàng không ở trần gian này. Họ chẳng hiểu chàng nói gì.

Gần đây, Giêsu bảo chàng sẽ chết nhục nhã trong tuần nay. Trước sau 3 lần Giêsu nhấn mạnh về cái chết của mình. Họ cứ lờ đi để tận hưởng những lời tung hô của dân chúng.

Giêsu buồn bã. Các môn đệ theo sát chàng cả 3 năm trường, nghe lời giảng dạy nhiều lần. Nếu họ không hiểu sứ điệp của chàng thì dân chúng ngoài kia, lâu lâu gặp Giêsu một lần thì làm sao hiểu được đây. Mà ngày giờ sinh tử đang đến gần, và chẳng còn bao lâu nữa.

Có thể sứ mạng của chàng chẳng bao giờ hoàn tất được.

Giêrusalem, thứ Hai, 3 tháng Tư, năm 30 CN

Sáng sớm, thầy trò Giêsu lên đường từ Bêtania vào thành Giêrusalem. Chuyện ngày hôm qua chàng cưỡi trên lưng lừa, dân chúng tung hô khắp trên đường từ Betania đến đồi Ôliu chắc chắn đã đến tai các thượng tế và quan tổng đốc Philatô.

Lính Rôma bủa tứ phía canh giữ cẩn mật, nhất là Khu Dân Ngoại. Những kẻ canh gác đền thờ (tay chân của thầy Caipha) cũng rảo bước khắp nơi. Họ chưa dám ra tay động thủ, vì dân chúng đổ vào đền thờ đông đúc, và theo sát chân Giêsu. Bắt giữ chàng ngay trong đền thờ là hạ sách. Đám đông chắc chắn chống cự, và bạo động sẽ xảy ra.



Bỏ Khu Dân Ngoại, chàng bước sâu vào đền thờ, các môn đệ theo sau. Ba năm trước, Giêsu đã lật đổ những bàn đổi tiền. Lần này, chàng nghĩ cần phải làm lần nữa. Nhưng lần này khác hơn vì dân chúng biết đến chàng là Giêsu thành Nazarét. Nhất cử nhất động của Giêsu, đám tay chân của thầy Caipha vẫn theo dõi từ xa.

Cũng như lần trước, nghĩ là làm liền, chàng lật ngửa một bàn đổi tiền bên cạnh. Thêm một bàn bị hất tung. Một bàn nữa. Tiếng đồng tiền rơi loảng xoảng, văng tung tóe khắp nơi. Không thấy cừu và gia súc, nhưng chàng mở tung lồng chim bồ câu treo lơ lửng ngang đầu. Chim bay toán loạn. Giêsu giận dữ nhưng chàng hành động chừng mực, không quá tay. Giêsu nói với họ, "Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!" Giêsu viện lời của tiên tri Giêrêmia (sào huyệt của bọn cướp), người bị bỏ xuống giếng khô cho chết vì tiên đoán đền thờ bị san bằng.

Đám thủ hạ của thầy Caipha cứng người. Họ chỉ bắt được một lời lộng ngôn. Đền thờ là nhà Thiên Chúa. Giêsu nói đền thờ là Nhà Ta cũng cầm bằng chàng là Thiên Chúa. Đám đông hứng khởi khi thấy bọn đổi tiền và bán súc vật chạy toán loạn. Họ vây quanh Giêsu và la lớn, "Chúc tụng con vua Đavít." Trẻ em cũng bắt chước tung hô. Tiếng hô của đám đông vang rền một góc đền thờ.

Tay chân của các thầy thượng tế vội vã chạy đến dinh Caipha báo cáo. Thầy Caipha đứng nghe đám thủ hạ, trầm ngâm cân nhắc lợi hại. Thầy nhớ mãi lần nổi loạn xảy ra ngay tại đền thờ sau khi Hêrôđê Cả chết. Lần đó, một góc đền thờ bị cháy rụi. Trong thâm tâm, thầy tin chắc Giêsu là tiên tri giả, và sách Đệ nhị luật nói rõ, "Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ hay một kẻ chuyên nghề chiêm bao và nó báo trước cho anh em một dấu lạ hay một điềm thiêng... Ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy sẽ bị xử tử, vì nó đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa."

Giêsu phải chết bằng bất cứ giá nào, thầy Caipha tự nhủ.

Thời giờ gấp rút lắm rồi. Chỉ còn 4 ngày nữa là đến lễ Vượt qua.

Giêrusalem, thứ Ba, 4 tháng Tư, năm 30 CN, ban ngày

Từ hôm đến Giuđêa, ngày thì vào thành Giêrusalem, và đêm nào thầy trò rút về Bêtania nghỉ ngơi tại nhà Lazarô. Tuần này, Maria và Mácta dọn 2 bữa ăn mỗi ngày, khá thịnh soạn. Bữa chiều gồm bánh mì, dầu ôliu, súp, đôi khi có thịt bò và cá khô. Bữa sáng có bánh mì và trái cây. Nhà chật người vì chỉ riêng thầy trò Giêsu đã lên đến 13 người. Ba chị em nữa là 16. Đôi khi khách hành hương lỡ đường Lazarô cũng đón tiếp tử tế. Chị em Mácta khá bận rộn việc nấu nướng hàng ngày.

Rạng đông. Thầy trò thức dậy chuẩn bị vào thành. Đến gần đồi Ôliu, một môn đệ phát hiện cây vả bị Giêsu chúc dữ ngày hôm qua vì không có trái, hôm nay đã héo khô, "Sao cây vả chết mau vậy?" Giêsu ân cần, "Tôi bảo thật anh em, nếu anh em có đức tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều tôi vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: "Dời chỗ đi, đâm xuống biển! ", thì sự việc sẽ xảy ra như thế." Mãi về sau, chuyện cây vả héo khô và lời nói về đức tin in sâu vào lòng trí của các môn đệ.

Nhưng chuyện cây vả chỉ mới bắt đầu. Các môn đệ sẽ nhớ mãi những gì xảy ra trong vài ngày tới. Những biến cố này hun đúc trong tâm hồn, làm các ông thêm mạnh mẽ để tiếp tục sứ mạng rao giảng của Giêsu.

Buổi sáng đẹp trời. Ánh nắng ban mai chiếu tia nắng đầu tiên trong ngày, vuốt ve cảnh vật. Không khí Xuân vào tháng Tư đượm mùi lúa thơm theo gió từ cánh đồng thổi ngang đồi. Thầy trò hít một hơi dài sảng khoái.

Sự sống bừng lên khắp nơi. Ngay cả cái chết cũng đang tiến đến gần.

* * *

Bước qua cổng thành, thầy trò lầm lũi bước về phía đền thờ. Giêsu ngồi xuống Thềm Salômôn và bắt đầu giảng dạy. Lập tức, đám thượng tế đền thờ vây quanh chàng, "Ai cho ông quyền rao giảng trong đền thờ?" Họ, tượng trưng cho quyền hạn lớn nhất, cố ý dùng quyến bính thiêng liêng để làm nhục chàng. Đám đông ngồi lặng yên, lắng tai nghe cuộc đối đáp chắc chắn hứa hẹn nhiều thú vị. Thấy Giêsu yên lặng, một thầy gằn giọng, "Ai? Ai cho phép ông?" Giêsu nhìn thẳng vào mắt đám kinh sư và thượng tế, giọng bình tĩnh hơn bao giờ, "Tôi hỏi các ông một câu, nếu trả lời được, tôi sẽ cho ông biết quyền hạn nào cho phép tôi giảng dạy trong đền thờ." Nhóm biệt phái Pharisêu theo dõi Giêsu ở Galilê từng khuyến cáo các thầy thượng tế rằng phải coi chừng lời nói của Giêsu, rất khôn ngoan và khó bắt bẻ. Đám thượng tế nghe xong bĩu môi tỏ vẻ khinh bỉ. Các thầy nghĩ Giêsu chỉ là anh thợ mộc xuất thân từ cái làng Nazarét nghèo nàn, thất học, làm sao thông hiểu Kinh thánh cho bằng các thầy. Đám thương tế rất tự tin là sẽ dùng Kinh thánh để quật ngược lại Giêsu. Họ chờ đợi câu hỏi của chàng.

"Theo các ông, phép rửa của ông Gioan do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?" Họ suy nghĩ rồi tụ nhau lại bàn tán, "Nếu mình nói: 'Do Trời', thì ông ấy sẽ vặn lại: 'Thế sao các ông lại không tin ông ấy?' Còn nếu mình nói: 'Do người ta', thì lại sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gioan là một ngôn sứ." Suy đi tính lại, họ trả lời Giêsu: "Chúng tôi không biết." Chàng bình thản buông, "Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy." Rồi chàng bồi thêm, "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu sám hối mà tin ông ấy."

Đám đông há hốc miệng. Họ không ngờ Giêsu dám kết tội các thầy thượng tế bằng giọng đanh thép ngay giữa đền thờ, nơi được xem là bất khả xâm, nơi mà quyền lực của các thầy được xem là tuyệt đối.

Còn đám thượng tế và kinh sư hầu như đứng không vững trên đôi chân. Trước đám đông, họ thua một trận thật nhục nhã.

* * *

Chẳng mấy chốc, tin Giêsu kết tội các thầy thượng tế lan khắp đền thờ. Khách hành hương càng mến mộ chàng thêm. Họ bàn tán Giêsu đúng là một tiên tri, và mong mỏi một lệnh truyền để dân Do-thái cùng chàng nổi dậy đập tan xiềng xích nô lệ.

Nắng lên cao. Công việc trong đền thờ vẫn êm ả tiến hành, nhưng kế hoạch giết chết Giêsu chợt trở nên bức thiết hơn bao giờ. Giêsu kể một dụ ngôn về một ông chủ giàu có và đám tá điền độc ác giết chết đứa con thừa tự khi ông sai đứa con đến thu lợi hoa màu. Lời kết luận của chàng như ngầm báo các thầy thượng tế sẽ mất hết quyền hành và được thay thế một lớp người khác tốt hơn.

Rồi một dụ ngôn nữa về nước Trời, ví như một tiệc cưới, bố chàng rể mời khách đến dự tiệc mừng. Số người khách ăn mặc lôi thôi lếch thếch sẽ bị trói và bị ném ra ngoài. Giêsu kết luận, "Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít."

Đám thượng tề bàn bạc nên đổi chiến thuật tấn công, không dùng Kinh thánh nhưng dùng sinh hoạt thường ngày để kết tội chàng. Lần này, họ đưa nhóm Pharisêu đến để thử chàng. Họ nhẹ nhàng hỏi Giêsu, "Ý ông thế nào? Có nên đóng thuế cho Caesar không?" Đây là câu hỏi chết; nghĩa là trả lời đường nào cũng chết. Trả lời không, vô tình chàng xúi dục dân chúng không đóng thuế, và làm như thế là chống lại Rôma. Tội tử hình theo luật hiện hành. Nếu trả lời có, thì chạm đến quyền lợi của dân Do-thái. Đám đông kỳ vọng nơi chàng một cuộc cách mạng chống lại bọn Rôma; vả lại, thuế má nặng nề khiến dân thù ghét bọn thu thuế, thù hận đế quốc Rôma. Chắc chắn đám đông sẽ bỏ chàng, vì hóa ra Giêsu cũng về hùa với hoàng đế Rôma để bóc lột dân.

"Các ông tính gài bẫy tôi?" Giêsu bảo họ đưa một đồng tiền Rôma. Chàng hỏi, "Hình ai đây?" Họ đáp ngay, "Caesar," Giêsu đưa mắt nhìn đám Xađốc, "Của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa." Câu trả lời lưỡng của Giêsu thật khôn ngoan, vì bọn họ không thể nào bắt lỗi được chàng.

* * *

Nhóm Xađốc ra quân. Xã hội Do-thái thời đấy chia ra nhiều nhóm, nhưng 2 nhóm lớn là Xađốc và Pharisêu. Xađốc thiên về chính trị, trong khi Pharisêu chuyên về lề luật cho đời sống tâm linh. Vậy mà nhóm Xađốc hôm đó lại hỏi chàng một câu về lề luật, "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?"

Theo giáo huấn của nhóm Pharisêu, có 613 quy chế tôn giáo. Mỗi quy chế hay luật lệ đều kèm theo lời giải thích tầm mức quan trọng, nhưng dù quan trọng hay không dân chúng bắt buộc phải giữ. Luật lệ và quy chế đặt ra chằng chịt vây bủa lấy người dân. Khi hỏi điều luật nào đứng đầu, Giêsu bắt buộc phải kèm theo lời giải thích. Nhưng Giêsu không chọn một trong 613 điều lệ đó, chàng đưa ra hai điều răn mới, "Điều răn đứng đầu là: Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả luật và các tiên tri đều phát xuất từ hai điều răn này."
Quay sang đám đông, Giêsu vừa nói vừa chỉ vào nhóm Xađốc, "Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi".

Sáu lần Giêsu tố cáo nhóm Pharisêu là đạo đức giả. Chàng gọi họ là "nòi rắn độc," Giêsu bảo tâm hồn họ không thanh sạch. Chàng thẳng thắn lên án họ quá tập trung vào các chi tiết nhỏ của đời sống tôn giáo mà thiếu hẳn con tim trong việc thực thi lề luật của Thiên Chúa. Tệ hơn, Giêsu còn nói đám đạo đức giả sẽ bị luận phạt đời đời.
Giêsu biết thời gian giảng dạy đã chấm dứt. Chàng sẽ rời đền thờ và biệt tăm tung tích cho đến lúc bị luận tội công khai. Nhìn đền thờ lần cuối, Giêsu than thở với các môn đệ, "Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào." Đúng ra, chàng đang nói đến cái chết cận kề khi tiên đoán sự tàn phá của đền thờ.

Giêsu nói riêng điều này với các môn đệ, nhưng đám biệt phái nghe rõ. Chỉ một câu nói đó thôi, Giêsu đủ lãnh án tử hình.

* * *

Chiều buông. Giêsu ngồi trên đồi Ôliu, phóng mắt nhìn về thành Giêrusalem, các môn đệ vây quanh. Thoáng trong tâm trí Giêsu nhớ lại mấy ngày trước ngồi trên lưng lừa, tiếng tung hô vang lừng ở trên đồi này. Phù du chóng qua, chàng nghĩ thầm. Đêm xuống, Giêsu nhắn nhủ các môn đệ phải sống hết lòng cho xứng với cuộc đời. Giêsu dùng dụ ngôn đơn giản và dễ hiểu để giúp các ông thấm ý chàng. Các môn đệ chăm chú lắng tai nghe, nhưng đến lúc Giêsu bảo các ông cũng sẽ bị kết án và giết chết, họ ngơ ngác chẳng hiểu gì. Tối hôm trước khi bị giao nộp cho đám thượng tế, chỉ có thầy trò ngồi bên nhau trên đồi Ôliu, Giêsu nhìn nét mặt ngơ ngác của các môn đệ và chàng bỗng cảm thương các môn đệ quá chừng. Họ bỏ tất cả để theo chàng trong suốt 3 năm, ăn uống, ngủ nghỉ đều có nhau. Thời gian của Giêsu không còn bao lâu nữa, họ vẫn ở lại trần gian để tiếp tục rao giảng sứ điệp yêu thương của chàng. Giêsu an ủi, hứa không bỏ các ông mồ côi. "Tôi đi trước để dọn chỗ cho anh em," chàng ân cần bảo thế. Giêsu nói thêm, "Nước Trời là phần thưởng cho tất cả những ai thực thi lời giáo huấn của tôi." Giêsu bảo đảm sau này thầy trò sẽ gặp nhau, không ở trần thế này, nhưng ở trên Thiên đàng.

Đêm về, bầu trời lấp lánh những vì sao, đủ sáng để thầy trò nhìn thấy mặt nhau. Đứng dậy, nhìn lên trời cao, giọng chàng đều đều, "Anh em biết rồi, hai ngày nữa sẽ đến lễ Vượt qua, Con Người sẽ bị nộp và bị đóng đinh."

* * *

Ngay khi Giêsu nói với các môn đệ lời này, thì tất cả các thượng tế và kỳ lão tập họp về dinh Caipha. Họ bàn luận sôi nổi, cách duy nhất để giải quyết mọi chuyện là phải trừ khử Giêsu. Thời gian cấp bách lắm rồi. Phải bắt giữ Giêsu rồi điệu ra tòa án. Nhưng luật không cho phép xét xử trong ngày lễ Vượt qua. Như thế, muốn giết Giêsu, phải bắt giữ vào ngày mai, hoặc chậm nhất vào ngày thứ Năm và kết án trước hoàng hôn.

Bắt giữ thế nào đây? Thầy Caipha suy nghĩ thật lung. Chắc chắn không thể bắt giữ trong đền thờ. Đám đông hầu hết theo Giêsu, ắt có thể châm ngòi một cuộc bạo động. Nếu đền thờ có biến, Philatô sẽ can thiệp, và hoàng đế Rôma sẽ đổ tội cho thầy không biết lường trước tình thế.

Phải ra tay chớp nhoáng, Caipha nghĩ thầm. Không một ai biết, chẳng một ai hay Giêsu bị bắt giữ. Bí mật tuyệt đối. Chẳng ai ngờ, ngay lúc Caipha suy nghĩ như thế, một trong 12 môn đệ cũng suy nghĩ gần gần như Caipha.

Hắn chỉ cần một chút tiền công.

Giêrusalem, thứ Tư, 5 tháng Tư, năm 30 CN, ban đêm

Giuđa Iscariốt băng mình vào màn đêm. Hắn âm thầm rời làng Bethania tiến về thành Giêrusalem, trong khi thầy trò Giêsu đang nghỉ ngơi tại nhà Lazarô. Đã 5 ngày kể từ khi thầy trò đặt chân đến Bethania và 3 ngày kể từ hôm Giêsu huy hoàng trên lưng lừa giữa tiếng rò heo vang dậy. Vậy mà thầy Giêsu vẫn im lặng chưa tuyên bố chàng là đấng Kitô. Được sự hậu thuẫn của dân chúng đông đảo đến thế, Giuđa nghĩ phải chụp thời cơ tuyên bố danh tính ngay để thống lĩnh đám đông tiến hành cuộc nổi dậy. "Anh em sẽ bị trao nộp và bị kết án, bị tử hình, và anh em sẽ bị thiên hạ khinh ghét vì tôi." Giêsu đã nói thế với các môn đệ mới tối hôm qua trên đồi Ôliu.

Giuđa không muốn chết nhục nhã như lời tiên đoán. Nếu thầy Giêsu đúng là đấng Kitô thì việc triệt hạ đế quốc Rôma dễ như trở bàn tay. Biết bao nhiêu phép lạ Giuđa đã chứng kiến 3 năm nay. Người chết còn được sống lại thì sá gì đội quân hùng mạnh của Rôma. Khi lật đổ được Rôma, các thầy thượng tế bắt buộc phải bắt tay với Giêsu để cai trị dân. Nếu xảy ra đúng thế thì làm sao hắn có thể bị tử hình được.

Giuđa có ý định táo bạo. Phải đặt Giêsu vào tình trạng phản công.

Hắn đã nhen nhúm ý định từ hôm thầy trò ngồi ăn bữa chiều tại nhà Lazarô. Maria lấy nguyên một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất nhập từ Ấn độ rưới lên đầu Giêsu tỏ dấu tôn sùng; cả nhà bốc mùi thơm ngào ngạt. Đây không phải lần đầu Giêsu được xức dầu thơm, hắn đã chứng kiến nhiều lần từ mấy năm qua. Các phụ nữ tỏ lòng mến mộ Giêus nên xức dầu thơm trên đầu hoặc rửa chân cho chàng là chuyện thường. Không hiểu sao đêm nay hắn đâm tiếc của. Giuđa phàn nàn sao không đem bán để lấy tiền cho người nghèo. Đừng tưởng Giuđa thương người nhưng vì hắn thường bớt xén của chung làm của riêng. Bán đi lấy tiền để hắn còn bòn rút được chút đỉnh.

Giêsu đưa tay ngăn: "Hãy để cô ấy yên. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn tôi, anh em không có mãi đâu. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng tôi." Một lần nữa, lời nói của Giêsu làm hắn hoang mang. Nếu có người xức dầu thơm cho Giuđa như xức cho thầy hắn thì hân hạnh quá nhưng sao lại dính đến chuyện tẩm liệm, chuyện chết chóc. Bây giờ, Giuđa lầm lũi bước trong đêm. Mùi củi khô cháy tỏa lan trong không khí từ các lều cắm la liệt trên đồi Ôliu làm hắn khó chịu. Lễ Vượt qua bắt đầu vào đêm trăng xanh đầu tiên của tiết xuân phân; chiều thứ Sáu và chỉ còn 2 ngày nữa.

Mặt trăng lấp ló ở lưng chừng cây. Giuđa rảo bước trên con đường gập ghềnh. Đến thành, hắn sẽ lên phố Thượng để gặp thầy Caipha, người nắm giữ quyền lực cao nhất ở đền thờ, kể cả tòa án hình Sanhedrin. Giuđa tin chắc được thầy Caipha trọng vọng vì hắn sẽ hiến một tuyệt kế làm vừa lòng thầy.

Đứng trước cửa dinh, Giuđa bảo người lính canh muốn gặp thầy Caipha. Tên lính dẫn ngay hắn vào đại sảnh gặp thầy và các kỳ lão. Câu trả lời làm thế nào bắt giữ Giêsu để không kinh động lòng dân khiến Caipha triệu tập gấp một cuộc họp với các thầy tư tế và kỳ lão. Đang bàn cãi gay cấn thì được tin có người muốn gặp. Và đây, Giuđa Iscariốt đang đứng trước mặt các thầy.

Giuđa đi thẳng vào vấn đề ngay, "Các ông trả bao nhiêu nếu tôi giao Giêsu cho các ông?" Tiền bạc chẳng nghĩa lý gì nếu bắt giữ được Giêsu. Cái nạn Giêsu lớn gấp nghìn lần tiền bạc sẵn có. "Ba mươi đồng bằng bạc," Caipha đưa giá không chần chừ. Ba mươi đồng bạc (silver) ngang với 120 denarii (tiền Rôma), cỡ 4 tháng thu nhập. Caipha nói thêm, "Chỗ bắt không được nằm trong khu vực đền thờ." Giuđa tính toán hơn thiệt. Nếu hắn nhận tiền, có 2 khả năng xảy ra: Giêsu bị bắt, chàng sẽ tuyên xưng mình là đấng Kitô. Nếu đúng là đấng Kitô, Giêsu dễ dàng thoát khỏi tay Caipha và các thầy thượng tế và chuyện bí mật giữa hắn và Caipha sẽ không một ai biết. Còn nếu Giêsu không phải là đấng Kitô, chàng sẽ chết và hắn là người có công với Caipha. Bất cứ cách nào xảy ra, Giuđa đều thoát chết.

Không cần bắt tay. Cả hai tin lời nhau, Caipha và Giuđa. Trước khi rời dinh, Giuđa hứa sẽ tìm gấp một địa điểm để giao nộp thầy hắn. Ba mươi đồng bạc trao tay. Tiếng kêu leng keng của mấy đồng bạc va chạm nhau nằm trong túi làm Giuđa cảm thấy ấm lòng.

Với ba mươi đồng, Giuđa sẽ biết thầy Giêsu có phải là đấng Kitô hay không.

Giêrusalem, thứ Năm, 6 tháng Tư, năm 30 CN, ban đêm

Giêsu phải tìm gấp một chỗ để dùng bữa cuối với các môn đệ. Bữa cuối. Nghĩ đến đó, chàng khẽ rùng mình. Hình phạt đóng đinh đau đớn và nhục nhã thế nào hầu hết mỗi người dân Do-thái đều biết. Chàng sắp sửa chịu nhục hình đó.

Giuđa cũng muốn biết chỗ dùng bữa cuối đó ở đâu. Hắn phải thông báo ngay với thủ hạ của thầy Caipha. Thoạt đầu, hắn tính đề nghị đưa quân lính đến tận nhà Lazarô để bắt Giêsu, nhưng đường đi từ Bêthania về thành hơn 3 cây số, và mất gần 40 phút, đủ lâu để khách hành hương trên đường – tiếp tục đổ về Giêrusalem để mừng lễ – nhận ra tội nhân là Giêsu thành Nazarét. Thầy Caipha không muốn thế. Thầy muốn việc bắt giữ Giêsu phải được giữ kín.

Nằm trong khuôn viên đền thờ, mạn tây bắc, là pháo đài Antonia (xem hình) xây dựng rất kiên cố, gồm 4 tháp canh. Đây là dinh lũy chứa hàng trăm lính Rôma với nhiệm vụ bảo vệ trật tự đền thờ. Lính Rôma cao cỡ 1m8, nặng 90 kg, mũ sắt có tua đỏ, áo giáp che ngực và hạ bộ, quần cụt hở nửa đùi, tay khiên tay giáo, bên hông lủng lẳng lưỡi gươm sắc lẻm, chân xăng-đan, bắp tay và chân gân guốc. Đây là tuần đại lễ, họ làm việc gần như ngày đêm, vì bạo động có thể xảy ra bất cứ lúc nào với đám đông cả trăm nghìn người đổ về dồn cứng trong một chu vi 1540m với diện tích 144.000 m2 (theo Josephus, sử gia Do-thái). Thường dinh lũy Antonia chứa khoảng 500 lính Rôma túc trực ngày đêm. Vì lễ Vượt qua, quan tổng đốc Philatô ra lệnh tăng cường vài nghìn lính đến từ Caesarêa để bảo đảm mặt an ninh. Vì đông quân số nên công việc giữ an ninh xem ra không mệt mỏi lắm. Nhưng mệt mỏi nhất là 12 người lính được tuyển chọn đặc biệt cho công việc ngày mai.

Mười hai người được tuyển chọn đặc biệt nằm trong đội hành quyết.

Họ chia làm 3 đội, mỗi đội 4 người chịu trách nhiệm đóng đinh 1 tử tội. Lệnh đã được đưa ra, ngày mai sẽ đóng đinh 3 tội phạm vào thập tự. Đội hành quyết có tên quaternio; đúng ra có thêm một đội trưởng (exactor mortis), người thứ 5, đứng ngoài để giám sát 4 người lính kia. Sở dĩ họ mệt vì diễn tiến hình phạt kéo dài, chứ không đơn thuần là đâm một lưỡi giáo vào tim, hoặc chặt một nhát đứt đầu, chết ngọt. Trước hết, tội nhận bị lột trần truồng và bị đánh đòn. Người lính phải ra sức quật vào lưng vì tên đội trưởng luôn xem chừng những ngọn roi thiếu sức. Trường hợp này người lính sẽ bị phạt. Đầu cây roi thắt những viên bi sắt và những mẩu xương có móc. Tội nhân oằn người hứng chịu một roi. Máu ứa ra ướt đẫm khoảnh đất dưới chân tử tội sau chừng 20 roi. Lính cứ đánh đến khi nào tên đội trưởng bảo ngưng. Nghỉ một lúc, tử tội phải tự vác lên vai thanh ngang (patibulum) đến ngọn đồi tên Calvaria, nằm ở ngoại thành Giêrusalem. Tên Aramaic là Gulgalta, sau này thường gọi là Golgotha. Cả 3 tên đều có nghĩa là "sọ", vì hình dáng ngọn đồi giống như sọ người. Ở đây, 3 cột to (staticula) đã trồng sẵn. Đến nơi, đội hành quyết đẩy tử tội nằm lên rồi dùng đinh đóng vào 2 cổ tay, hai chân chụm lại đóng thêm một đinh dài. Đứng chờ tử tội hấp hối và cuối cùng là đập gãy xương ống chân tội nhân. Xong một ngày thật vất vả.

Ngày mai 3 tử tội sẽ bị đóng đinh. Một trong 3 tử tội là tên sát nhân Barabbas, hai tên kia mang tội đồng lõa. Chiều mai, thân hình tử tội sẽ ướt đẫm máu, kể cả bộ áo giáp của đội hành quyết.

* * *

Chiều về. thầy trò Giêsu quay lại Giêrusalem để dùng bữa cuối cùng. Có người cho thầy trò thuê một căn phòng khá lớn nằm ở tầng hai ở phố Hạ, gần hồ Siloam. Chàng sai Phêrô và Gioan đi trước để chuẩn bị bữa ăn.

Giuđa cần biết căn phòng nào ở phố Hạ. Và chỉ cần báo cho thủ hạ Caipha, quân lính từ phố Thượng sẽ đến tận nơi bắt Giêsu.

Giêsu và các môn đệ yên vị trong căn phòng. Như mọi lần, thầy trò bắt đầu bữa tiệc bằng nghi thức rửa ráy tay chân. Lần này đặc biệt hơn, Giêsu bảo các môn đệ ngồi xuống, rồi chàng lấy nước rửa chân cho từng người, rũ sạch bụi đường. Hành động rửa chân chỉ có giữa đầy tớ và chủ, và nếu có đi nữa thì các môn đệ nên rửa chân cho Giêsu để tỏ lòng kính trọng thầy. Đàng này, chính thầy lại rửa chân cho trò. Các ông kinh ngạc không thốt nên lời trước hành động hèn hạ đầy khiêm nhu của người thầy. Giêsu cẩn thận lau chân cho từng người. Đến từng môn đệ, chàng lẩm nhẩm nhớ từng bản tính của họ. Này là Simon kẻ quá khích, ưa thích chính trị; đây là Phêrô bộp chộp nóng nảy; Giacôbê và Gioan, "con của sấm sét"; Tôma, nhiệt tình với nét ủ dột; một An-rê yêu đời; Philíp, thường chịu đựng; và những môn đệ còn lại. Ba năm trường, chàng hiểu rõ tính nết của từng người. Rồi đây đời sống của họ sẽ thay đổi dữ dội sau cái chết của chàng. Giêsu ân cần lau khô từng bàn chân một với cả tấm lòng thương yêu.
Đang dùng bữa, Giêsu tỏ vẻ buồn rầu, "Tôi bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp tôi cho các thượng tế." Căn phòng yên ắng, không ai nói một lời nào. Các môn đệ yên lặng để lời nói của người thầy thấm vào tâm trí. Họ nhìn nhau, lắc đầu, tự ôn lại mọi hành động của mình đã vô tình làm Giêsu nghĩ họ lả kẻ phản bội. Mãi lúc sau, lần lượt từng người trấn an chàng, "Thưa thầy, chắc chắn không phải tôi."

Nhưng Giêsu khẳng định, "Kẻ đưa tay chấm chung một đĩa với tôi, đó là kẻ sẽ nộp tôi. Đành rằng Con Người sẽ đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!" Phêrô nóng nảy muốn biết kẻ phản bội là ai, ông ra hiệu cho Gioan, người kê gối sát chỗ của Giêsu, "Hỏi thầy xem ai." Gioan nghiêng đầu sát tai thầy, hỏi nhỏ, "Thưa thầy, ai vậy?" Gioan ngồi bên phải chàng, còn Giuđa ngồi bên trái. Ngay lúc đó, Giuđa cũng ghé sát tai Giêsu hỏi, "Chẳng lẽ tôi sao, Ráp-bi?" Giêsu nghiêng đầu sang bên trái, nói nhỏ vừa đủ Giuđa nghe, "Chính là anh, điều gì anh định làm thì làm mau đi."

Căn phòng khá ồn vì các môn đệ bàn cãi với nhau xem ai là người phản bội nên không ai nghe mẩu đối thoại giữa chàng và Giuđa. Nên khi Giuđa đứng dậy mở cửa bước ra ngoài ai cũng tưởng hắn đi lấy thêm bánh và rượu.

Kẻ phản bội bước ra ngoài băng mình vào đêm tối. Cả hai, Giuđa và Giêsu thành Nazarét đều biết chỗ hắn sắp đến. Khoác túi tiền lên vai, Giuđa nhắm hướng phố Thượng bước một mạch không hề ngoái lại.

* * *

Đêm đã khuya. Thầy trò băng qua thung lũng Kidron đến vườn Giếtsimani nằm sát dưới chân đồi Ôliu. Dù biết các môn đệ mệt mỏi sau bữa ăn, Giêsu vẫn bảo các ông tỉnh thức rồi bước lên đồi tìm một chỗ thật yên tịnh. "Anh em ngồi đây chờ tôi đi cầu nguyện." Giọng buồn rầu, chàng nói, "Tâm hồn tôi buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với tôi."

Trăng tròn vành vạnh. Cỏ cây ngập lối đi nhưng chàng vẫn kiếm được một chỗ thanh vắng để cầu nguyện, "Cha ơi, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha." Đêm khuya thanh vắng, chỉ mình chàng với côn trùng kêu rả rích chung quanh. Không gian tĩnh mịch, chưa bao giờ chàng cảm thấy cô đơn đến thế. Giêsu biết rõ chàng phải chết. Cái chết không đến ngay, nhưng chết từ từ bằng những nhục hình độc ác nhất trần gian. Dân chúng sẽ không bao giờ hiểu được một người tự nhận là Con Thiên Chúa mà lại chấp nhận một cái chết nhục nhã trên cây thập tự, hình phạt khủng khiếp nhất, tàn nhẫn nhất chỉ để dành cho phường sát nhân.

Cầu nguyện chừng một tiếng, Giêsu mò mẫm quay lại vườn Giếtsimani. Các môn đệ dựa vào nhau ngáy đều. "Anh em không thể thức với tôi một giờ sao?" Thở dài, Giêsu quay lại chỗ cũ và tiếp tục cầu nguyện. Chàng than thở, "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha."

Giêsu bước xuống đồi đến chỗ các môn đệ. Các ông vẫn ngủ say. Nhìn các môn đệ ngủ, chàng cảm thấy thương hơn là giận. Sứ mạng của chàng lớn lao quá, khó cho các ông thấm được. Những lời giảng của chàng suốt ba năm, có người hiểu rõ, có người hiểu không hết. Chàng kiên nhẫn giải thích cho các ông, rồi dần dần họ hiểu được sứ điệp của chàng: sứ điệp yêu thương. Nhưng mặt khác của sứ điệp yêu thương là phải chết cho người mình yêu, các ông hầu như không thể hiểu, hoặc từ chối không hiểu.
Chàng bước lên đồi lần thứ ba để cầu nguyện. Lần này, nỗi đau đớn và tuyệt vọng bủa vây lấy chàng, chằng chịt, đan kín khiến chàng gần như ngộp thở. Trong sách của y sĩ Luca (cũng là thánh sử), ông viết tình trạng lo âu, cô đơn, sợ hãi làm Giêsu toát mồ hôi màu đỏ hồng. Hiện tượng máu theo mồ hôi toát ra ngoài gọi là hematidrosis, xảy ra trong tình trạng cùng cực của sức chịu đựng. Mặc dù hiếm nhưng thường xảy ra với tử tội vào giờ phút cuối cùng trước khi bị hành hình.

Sau ba lần cầu nguyện, chàng đuối sức. Thất thểu xuống đồi, ánh trăng soi bóng chàng lảo đảo bước về chỗ các môn đệ. Đã quá nửa đêm. Sương rơi. Trời trở lạnh. Giêsu chỉ mặc chiếc áo choàng thô sơ, bên trong chiếc áo chẽn mỏng. Chàng khẽ rùng mình. Giờ đã đến, chàng nhủ thầm.

Vườn Giếtsimani. Vườn định mệnh.

Giêsu không chạy trốn số phận. Chàng bình tĩnh chờ trong bóng đêm.

* * *

Giuđa dẫn theo đội lính gác đền thờ bước vào vườn Giếtsimani. Mỗi người lính mang theo gậy và gươm. Vài người cầm đèn dầu trên tay soi đường. Ánh trăng và ánh đèn le lói đủ sáng để đội lính thấy một người đàn ông râu mọc quanh cằm. Lệnh là phải đợi dấu hiệu của Giuđa.

Hắn bước lại gần chàng, hôn lên má, "Ráp-bi, xin chào thầy." Đây chính là dấu hiệu để bọn lính biết ai là Giêsu vì chàng và các môn đệ để râu giống nhau. Chàng nhìn Giuđa, "Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi!" Rồi quay sang đội lính, "Các anh tìm ai?" Giọng bọn lính rắn rỏi, "Giêsu Nazarét." Giêsu dõng dạc, "Chính tôi đây!"

Bọn lính gác đền thờ không phải lính Rôma nhưng chúng vạm vỡ và khỏe mạnh không kém. Thấy đám lính trói tay thầy mình, Phêrô rút gươm chém đứt tai Malchus, đầy tớ của thầy Caipha. Lập tức Giêsu ra lệnh, "Hãy xỏ gươm vào bao. Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm." Rồi chàng để bọn lính dẫn đi. Còn các môn đệ bỏ chạy tán loạn.
Đám lính dẫn Giêsu đến dinh của một thầy thượng tế vào đêm vọng lễ Vượt qua. Giuđa lẽo đẽo theo sau. Trên đường đi, bóng đêm đồng lõa che hết âm mưu, không một ai hay biết gì. Dân thành Giêrusalem chìm vào giấc ngủ nửa đêm về sáng, say nhất, ngon giấc nhất. Con đường về dinh đi ngang qua căn phòng ở phố Hạ, nơi chàng và các môn đệ vừa dùng bữa cuối cùng. Bước đi, Giêsu dần dần lấy lại bình tĩnh. Đến phố Thượng, ngang qua những dãy nhà khang trang của tầng lớp giàu có, chàng lấy lại được bình tĩnh thường ngày. Nét mặt chàng bình thản, gần như dửng dưng. Chưa bao giờ chàng bình tĩnh đến thế. Mà phải bình tĩnh, vì còn nhiều gai góc trước mặt và chàng phải đủ can đảm vượt qua.

Giêsu cứ nghĩ đám lính dẫn chàng thẳng đến dinh Caipha, nhưng không, chúng dẫn chàng đến dinh của một thượng tế già nua nhưng uy quyền lẫm liệt. Dòng họ thầy cha truyền con nối giữ chức thượng tế đã hơn nghìn năm nay. Thầy khôn khéo trong chính trị khi giao tiếp với đám quan lại Rôma. Thầy xảo quyệt khi đối phó với những dòng họ lăm le muốn thay thế chức thượng tế của thầy. Thầy thượng tế tên Ananus, con của Sethi, và dân thành Giêrusalem gọi thầy là Annas.

Giêsu đứng giữa sân của dinh thầy thượng tế Annas. Cuộc hỏi cung sắp bắt đầu, chắc chắn tàn bạo và dữ dội hơn bao giờ. Có điều chàng không ngờ nó bắt đầu bằng một quả đấm bay thẳng vào mặt chàng. Hai tay bị cột chặt, Giêsu không thể di chuyển bình thường để tránh. Chàng lãnh nguyên quả đấm ngay giữa mặt.

Màn chung cuộc vừa bắt đầu.

(còn tiếp)

Hạ Ngôn

Thêm bình luận
Xin các bạn vui lòng tôn trọng người đọc trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết lời bàn. Xin dùng tiếng Việt có dấu. Cám ơn!

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.