Lời nói đầu: Bill O'Reilly là nhà báo, sử gia, và là host của chương trình The O'Reilly Factor ăn khách của đài truyền hình Fox. Năm 2011, ông tung ra cuốn Killing Lincoln và nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy trên thị trường sách vở. Killing Kennedy năm 2012 lại được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Ông phát hành Killing Jesus và cuốn sách cũng bán chạy không kém. Killing Patton (2014) là cuốn sách mới nhất trong bộ khảo cứu những nhân vật lịch sử của O'Reilly.
Killing Jesus vẽ lại khung cảnh tại Galilê 2000 năm trước khi dân Do-thái nằm dưới ách thống trị của đế quốc Rôma. O'Reilly viết về Chúa Giêsu dưới cái nhìn của một nhà báo, nhà sử học, chứ không phải với quan điểm thần học. Ngài là Con Thiên Chúa, hơn 2 tỷ người trên thế giới tin như thế, nhưng xin tạm gác thiên tính của Ngài sang bên để nhìn Ngài như một con người đang sống bình thường giữa chúng ta. Mời quý vị nhìn chàng thanh niên Giêsu ở một góc cạnh khác, để hiểu Ngài với cái nhìn hoàn toàn người.
Cần nói thêm là đài truyền hình National Geographic sẽ trình chiếu bộ phim Killing Jesus vào ngày 29/3/2015 sắp tới, đúng vào ngày lễ Lá.
                                                                                                                        ***

(tiếp theo và hết)

Giêrusalem, thứ Sáu, 7 tháng Tư, năm 30 CN, sáng sớm


Quả đấm bay vào mặt chàng thình lình. Giọng của tên thủ hạ, "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?" Chàng nhìn thẳng vào mặt tên thủ hạ: "Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?"

Trời gần sáng. Thầy Annas đứng trước mặt chàng. Người đàn ông ở độ tuổi 60, cả đời thầy chuyên mưu mẹo và tính toán cho tiền bạc và danh vọng. Thường tội nhân giải đến thầy đều khúm núm, van xin thầy thương xót. Có đâu tên này không những đứng hiên ngang không tỏ vẻ sợ hãi mà còn lên giọng lý sự. Vài phút trước, thầy hỏi một câu, và Giêsu dõng dạc trả lời gần như thách thức, "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại đền thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì." Vừa hết câu, tên thủ hạ nóng mặt tung quả đấm vào mặt chàng.

Nên biết lai lịch của dòng họ Annas. Bắt nguồn từ thời vua Đavít, hơn nghìn năm trước, giáo trưởng Zadokites được vua Đavít trao chức thượng tế coi sóc đền thờ (~ 1010 trước CN). Thầy truyền chức thượng tế cho con trai và con rể và kéo dài mãi đến thời Alexander Đại đế chinh phục đất Do-thái khoảng 3 thế kỷ trước (năm 332 trước CN). Vua Alexander hy vọng đồng hóa dân tộc Do-thái và bắt dân chúng học tiếng Hylạp. Nên không lạ gì dòng họ thầy Annas rành tiếng Hylạp. Thầy bảo con cháu, không gì làm vui lòng kẻ đô hộ bằng cách học tiếng của họ. Năm 142 trước CN, dòng họ Hasmoneans nổi dậy chống sự đồng hóa và hất cẳng dòng họ Zadokite. Tám mươi năm sau, quan Rôma Pompey tàn phá Giêrusalem và tàn sát dòng họ Hasmoneans. Nhưng phải đợi đến thời vua Hêrôđê Cả, dòng họ Zadokite mới được phục hồi chức tư tế. Dòng họ Zadokites gắn liền với lịch sử của dân Do-thái,

Xã hội Do-thái có hai nhóm lớn nhất, Pharisêu và Xađốc. Các con thầy Annas, và ngay cả con rể Caipha đều thuộc nhóm Xađốc, nhóm chỉ tin vào bộ sách Torah, còn gọi là Pentateuch (penta = 5), gồm 5 cuốn sách đầu trong Cựu ước: Sáng thế ký, Xuất hành, Lêvi, Đệ nhị luật, và Dân số. Con cái thầy Annas như Eleazar, con rể Caipha, Jonathan, Theophilus, Matthias, và Ananus thay phiên nhau làm tư tế đền thờ. Dòng họ thầy kiểm soát số lượng súc vật sát tế trong đền thờ, kể cả những bàn đổi tiền. Số hoa hồng từ hai mối lợi này không nhỏ. Ngoại thành Giêrusalem, những nông trại nuôi súc vật để cung cấp vào đền thờ là của dòng họ thầy. Nhà cửa xây lên từng dãy cũng thuộc con cháu thầy. Lợi nhuận thu được từ những nguồn này cọng với thuế má, thầy khôn ngoan ăn chia với quan tổng đốc Philatô. Hàng năm thầy thân chinh đến Rôma để triều cống; tiền bạc và hiện vật không nhỏ để làm vừa lòng hoàng đế Tiberius. Con dân Do-thái phải làm việc quần quật suốt năm để cung phụng cho dòng họ Zadokites, quan Philatô, và cả hoàng đế Tiberius. Dòng họ thầy sống mãi trên nhung lụa hơn nghìn năm, con dân Do-thái sống cơ cực cũng từng ấy năm.

Giêsu thuộc dòng dõi David. Hai dòng họ liên quan từ nghìn năm nay. Tổ tiên của Annas làm tư tế dưới thời vua David và Salômôn, tổ phụ của Giêsu. Còn bây giờ, hậu duệ của vua David đang đứng trước mặt thầy Annas chờ bị luận tội. Mỉa mai thay!

Hỏi cung vào ban đêm là trái phép. Thầy Annas lại không có quyền kết án vì không còn quyền hành. Đưa tội nhân đến tư dinh của quan vào ban đêm lại càng trái luật. Tất cả phải phá lệ vì Giêsu phạm tội quá nặng: chàng đã cắt đứt nguồn lợi tức từ đền thờ chảy về Rôma khi hất tung các bàn đổi tiền. Nguồn thu nhập này phải chảy liên tục là trách nhiệm của Annas.

Giêsu rõ ràng không sợ thầy. Chàng không hề mở miệng xin giảm tội. Annas biết phải làm gì để kết án những kẻ đụng chạm đến quyền lợi của dòng họ Zadokites. Án phải là án chết để trừ hậu họa và nhất là để làm gương cho những kẻ còn sống. Thầy ra lệnh đám thủ hạ canh chừng Giêsu, chờ trời sáng.

Lệnh truyền cấp bách gửi đến từng nhà các thầy thượng tế, kỳ mục, và kinh sư. Tòa án Sanhedrin cần phải triệu tập gấp.

* * *

Trời vẫn còn tối. Bọn lính dẫn chàng ra gốc cây ở góc sân. Chúng nhúm chút lửa cho đỡ lạnh. Đám lính gác đền thờ bao quanh chàng. Giêsu bị bịt mắt, hay tay trói phía trước nhưng tai chàng vẫn nghe rõ. Một tên cười nhạo báng, "Này ông tiên tri," và tung một cú đấm, "đoán xem ai đánh vậy?" Chàng vẹo nghiêng người vì sức mạnh của cú đấm. Chưa lấy lại được thăng bằng vì cú đấm, lập tức chàng lãnh thêm vài quả từ bên phải, bên trái, và từ phía sau. Chúng đấm tới tấp, vừa đấm vừa cười nhạo báng. Mấy tên lính to lớn, lực lưỡng nên quả đấm tung ra rất nặng ký. Giêsu nhận diện được vài đứa, chúng là bọn hạch sách chàng mấy ngày trước đây trong đền thờ. Giêsu đã bêu xấu chúng, cả chủ chúng là các thầy thượng tế, và đây là lúc trả thù.

Hai tay bị trói nên Giêsu không làm gì được, chàng chỉ lấy tay che đầu. Nhưng một cú đấm thôi sơn vào bụng làm chàng gục nửa người. Chàng quỵ xuống, gập người, lấy đầu gối giữ thăng bằng. Ở tầm cao này, chúng không đánh đấm nữa nhưng chúng dùng chân. Một lần nữa, chàng bảo vệ đầu và để mặc cạnh sườn, lưng, và bụng làm bia cho chúng đá.

* * *

Giêsu đứng trước tòa án Sanhedrin. Vải che mắt đã gỡ xuống. Tất cả 71 thành viên của tòa án đều có mặt tại tư dinh của quan Annas. Các thầy thượng tế lại phá luật. Đúng ra, Giêsu phải được đưa đến tòa án của đền thờ.

Mặt và thân hình của Giêsu bầm dập vì bị bọn lính đánh đập dã man. Tin chàng bị bắt lan khắp nhà của các thầy tư tế thành Giêrusalem. Mấy nhóm người tụ họp ngay trước cửa dinh chờ tin tức. Hai môn đệ đủ can đảm lảng vảng gần đó.

Giêsu đứng thẳng người. Đám thủ hạ thay phiên tố cáo chàng. Chúng bóp méo một vài câu nói, diễn nghĩa theo ý của chúng. Theo luật, làm chứng dối là tội chết nhưng hôm nay các thầy yên lặng một cách đồng lõa, ngầm ra lệnh bọn thủ hạ đứng ra tố cáo càng nhiều càng tốt. Caipha ngồi lắng tai nghe, khuôn mặt lạnh lùng, chẳng ai biết thầy đang nghĩ gì. Giêsu cũng yên lặng như Caipha, chàng không lên tiếng phản đối hoặc đồng ý.

Và lời tố cáo của một tên lính làm mọi người chú ý, "Tên này nói sẽ phá đền thờ và xây lại trong 3 ngày." Đang ngồi chống cằm, Caipha ngồi thẳng dậy, đưa mắt nhìn Giêsu, "Ông nghĩ sao về lời tố cáo đó?" Giêsu vẫn im lặng, hầu như chàng không nghe câu hỏi của Caipha hoặc cũng chẳng nghe lời tố cáo. Thầy thượng tế gằn giọng, "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?" Câu hỏi then chốt liên quan đến quyền bính thiêng liêng; đúng ra liên quan đến quyền lực trần thế mà Caipha đang nắm chặt trong tay cho đến chết, không bao giờ nhả.

Yên lặng. Bên ngoài, tiếng lao xao của đám đông vọng vào không đủ khuấy động sự yên lặng của căn phòng. Mọi người bồn chồn chờ câu trả lời. Sau cùng, Giêsu mấy máy môi.

Từ lúc trả lời thầy Annas lúc nửa đêm cho đến bây giờ, Giêsu không hề mở miệng nói một chữ. Vì tầm quan trọng của câu hỏi, chàng phải minh xác một lần. Mọi người nóng lòng nghe chàng, "Nếu tôi nói, ông sẽ không tin. Nếu tôi hỏi, ông cũng chẳng trả lời. Nhưng tôi nói cho các ông hay: từ nay, Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng." Caipha không dám tin ở tai mình, thầy hỏi gặng, "Ông là Con Thiên Chúa?" Giêsu bình tĩnh, "Chính ông vừa nói. Và chính ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến."

Vừa nghe xong, Caipha đứng dậy, tay nắm lấy cổ áo và xé toạc từ trên xuống dưới. Thầy lớn tiếng, "Tên này nói lộng ngôn." Áo choàng bên ngoài của Caipha dệt bằng loại vải đắt tiền, đường viền chạy theo cổ áo và tay áo. Sự tức giận khiến Caipha xé rách áo chỉ bằng một lần vung tay. Thông thường luật cấm các thầy thượng tế xé áo để biểu lộ sự tức giận nhưng trường hợp của Giêsu quá đặc biệt nên mọi người chẳng màng tiểu tiết. Thầy xé toạc áo và cả phòng không ai dám thở mạnh. Chẳng ai biết Caipha đóng kịch xé áo hay thầy tức giận thực sự.

Theo luật của tòa án Sanhedrin, các thành viên phải bỏ phiếu để quyết định số phận của tội nhân. Nhưng, một lần nữa, các thầy đốt cháy giai đoạn bỏ phiếu và nhanh chóng kết án Giêsu. Cả tòa án, có 2 người phản đối, Nicôđêmô thuộc nhóm Pharisêu và một người nhóm Xađốc tên Giuse, thành Arimathea.

Mặt trời đã lên. Giêsu bị kết án tử hình vì tội lộng ngôn. Bước tiếp theo là thuyết phục quan Philatô để quân Rôma đóng đinh chàng.

Từ lúc xé toạc áo đến khi kết án tử Giêsu thời gian chưa đến vài phút.

* * *

Chúng điệu Giêsu đến dinh quan Philatô. Những tên lính vây quanh xô đẩy chàng, theo sau là đám thượng tế, nét mặt đằng đằng sát khí. Chưa đến 7 giờ sáng và dân thành Giêrusalem vừa thức giấc. Vừa đến cổng dinh, Caipha đòi gặp cho bằng được Philatô. Các thầy thượng tế không bước qua cửa của dân ngoại sợ nhiễm uế trước khi cử hành lễ Vượt qua. Khá hỗn, vì quyền quan tổng đốc lớn hơn quyền của thầy thượng tế, nhưng Caipha biết Philatô sẽ thông cảm cho thầy, chỉ vì lề luật và truyền thống.

Tư dinh của quan Philatô rộng mênh mông. Chiều dài của dinh ngót nghét 140m, chia làm hai gian rộng rãi tên Caesareum và Agrippium. Gian hướng nam mở ra một sân rộng (praetorium), tòa án bỏ túi của quan và cũng là nơi tiếp khách. Mất một thời gian mới thấy quan, quần áo chỉnh tề, xuất hiện ngay ngưỡng cửa. Thấy đám người lố nhố gồm bọn lính giữ đền thờ, các thầy thượng tế, và tội nhân tả tơi đứng không vững trên đôi chân quan cảm thấy khó chịu.

"Người này có tội gì?" quan sẵng giọng. Caipha muốn lính Rôma giết Giêsu nhưng tội lộng ngôn chỉ xúc phạm theo luật Do-thái. Luật Rôma chẳng cần biết tội lộng ngôn. Philatô, tuy không hề khoan dung dân Do Thái, chẳng dại gì liều lĩnh hy sinh chức vụ tổng đốc bằng cách thi hành án tử hình theo luật Do Thái. Caipha không ngoan tránh câu hỏi của quan, "Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan." Philatô nói ngay, "Thì các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người." Caipha nài, "Nhưng chúng tôi không có quyền xử tử ai cả." Philatô vẫn lắc đầu, "Tôi chẳng thấy ông này có tội gì." Một thầy thượng tế lên tiếng, "Ông này xúi dục dân chúng vùng Giuđêa nổi loạn. Bắt đầu từ Galilê rồi kéo xuống miền nam." Philatô đang dợm quay vào liền ngoái đầu lại, "Ông này là dân Galilê?" Quan thấy ngay lối thoát vì không muốn dây dưa với tội nhân bị kết án theo luật Do-thái. Lệnh của hoàng đế Tiberius thật rõ ràng, tránh xa những gì liên quan đến truyền thống Do-thái. Nếu là người Galilê thì quyền hạn nằm trong tay Hêrôđê Antipas. Mà dinh quan tổng trấn Antipas chỉ cách dinh của quan vài trăm mét.

Cả đoàn người lại lục tục kéo nhau đến dinh quan Antipas, tiền hô hậu ủng, ai nấy nét mặt đăm đăm. Tuy quan rất hứng khởi khi đối diện Giêsu và đòi chàng làm một phép lạ cho quan thưởng thức, nhưng Antipas cũng không muốn dây dưa đến chuyện đã dính đến Rôma và các thầy của đền thờ. Tuy ghét Giêsu nhưng Antipas vẫn bị ám ảnh về cái chết của Gioan Tẩy giả. Người ta truyền miệng, vì giết một vị tiên tri, Antipas sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt nhãn tiền. Antipas không thể để tay dính máu một tiên tri thêm một lần nữa.

Tuy ghét bỏ Giêsu nhưng Antipas thấy chàng chẳng làm gì đáng tội chết. Trước khi trả về cho quan Philatô, quan tổng trấn để mặc đám thủ hạ chế giễu hỏi chàng có phải là vua không; nếu là vua thì quân lính đâu... Antipas cũng nhạo báng với chiếc áo choàng màu đỏ thẫm quan sai khoác lên người Giêsu, và đám lính quỳ xuống tung hô.
Màu đỏ thẫm là màu dành cho vua chúa.

* * *

Cả đoàn người dài lê thê lại kéo ngược trở lại dinh quan Philatô. Quan suy nghĩ về quyết định của Antipas. Philatô quên rằng Antipas sinh ra trong một gia đình mà phản bội và lừa đảo xảy ra như cơm bữa và từ đó bản năng của Antipas được trui luyện để thấy trước một nguy hiểm, biết nhìn trước trông sau, và biết phải quyết định thế nào để giữ quyền lực. Không hiểu sao, Philatô lại hài lòng khi Antipas trả Giêsu về lại cho quan. Một cuộc chiến xảy ra giữa đền thờ và Rôma, rõ ràng Antipas đứng về phía Rôma. Từ hôm nay, Antipas và Philatô bỗng trở nên thân thiện.

Philatô không biết phải đối phó thế nào. Chắc chắn quan không thể phóng thích Giêsu, vì làm thế sẽ gây hận thù với các thầy thượng tế. Nguồn lợi hàng tháng bắt nguồn từ đền thờ, quan không muốn mất nguồn thu nhập béo bở đó. Hơn nữa dính đến truyền thống của dân Do-thái là điều cấm kỵ, hoàng đế Tiberius sẽ nổi giận nếu quan làm ngược lại lệnh, và dĩ nhiên cái ghế tổng đốc cũng chẳng còn.

Nhưng quan không thể kết tội người này theo yêu cầu của các thầy. Quan tính kế mua thời gian. Philatô có thể giam Giêsu vào pháo đài Antonia. Tội nhân sẽ nằm đó cho qua ngày lễ, không chừng sau khi quan rời Giêrusalem và có thể không còn một ai nhớ đến tội nhân nữa. Nhưng thầy Caipha là một con cáo già. Thầy biết rõ ý định của quan nhưng quan trọng là thầy muốn án tử hình phải thi hành gấp. Thời gian không cho phép chờ đợi.

Philatô lưỡng lự, suy nghĩ, cân nhắc và sau cùng chấp nhận lời thỉnh cầu của Caipha. Quan giữ chàng lại dinh.

Số phận của Giêsu nằm trong tay Rôma.

* * *

"Ông có phải là vua dân Do-thái không?" Quan Philatô ngồi trên ngai, đưa mắt nhìn xuống, tò mò hỏi. Vì sân hướng nam không nằm trong khuôn viên của dinh nên các thầy thượng tế được phép tham dự phiên tòa mà không sợ nhiễm uế trước khi mừng lễ Vượt qua.

Chàng nhìn Philatô, "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?"

Philatô hỏi tiếp, "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?"

Giêsu phân trần, "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này."

Quan Philatô nghiêng đầu, cười nửa miệng, "Vậy ông là vua?"

"Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi."

Philatô có vẻ lôi cuốn vì câu trả lời của Giêsu. Quan cảm thấy thú vị muốn khám phá thêm về con người chàng; đúng hơn, quan tò mò, "Sự thật gì?" Đến đây, quan cụt hứng vì Giêsu yên lặng không trả lời câu hỏi của quan.

Quan cân nhắc tình hình. Rao giảng không phải là hình tội. Dùng lời rao giảng để xúi dục dân nổi loạn chống Rôma mới là hình tội. Qua lời tố cáo của nhân chứng, người đàn ông này không hề xách động dân, chàng chỉ rao giảng một sứ điệp lạ lùng quan không thể hiểu nổi: yêu thương kẻ thù như chính mình vậy. Nhưng nhìn nét mặt lạnh lùng và ánh mắt rực lửa của đám thượng tế, Philatô biết khó có thể thả Giêsu.

Quan nghĩ đến Barabbas, tên sát nhân sẽ bị xử tử trưa nay. May ra, may ra có thể cứu được, quan nghĩ thầm. Nghĩ thế, quan đứng dậy hỏi đám đông, "Có muốn ta tha vua dân Do-thái của các người không?" Đám thượng tế, kỳ mục, kỳ lão, và kinh sư đứng bật dậy la lớn, "Tha Barabbas! Tha Barabbas!" Nhìn đám đông, Philatô chịu thua. Có điều quan không biết là ngoài đám thượng tế đền thờ có mặt tại dinh ngày hôm đó, Caipha khôn ngoan ra lệnh hàng trăm người dân kéo đến dinh và đứng chen chúc ngay trong sân. Họ la lớn, cùng một điệp khúc. "Tha Barabbas! Tha Barabbas!"

Chỉ cần la to như thế, họ được trả tiền hậu hĩ.

* * *

Cùng một lúc với Giêsu bị luận tội tại dinh Philatô, sinh hoạt tại đền thờ bước dần đến cao điểm, bắt đầu mừng lễ Vượt qua. Dân chúng đổ về đền thờ mỗi lúc một đông. Họ chen chúc nhau, đổi tiền, đóng thuế, và mua súc vật để sát tế. Tại trung tâm đền thờ, người người đứng chờ đến lượt để sát tế con vật vừa ngả giá xong. Mùi máu, mùi thịt cháy khét trên bàn thờ, mùi củi khô tạo thành một mùi hỗn tạp xốc vào mũi khách hành hương. Các thầy thượng tế thay phiên nhau nhận con vật sát tế để cử hành nghi thức sám hối.
Philatô vẫn không chịu kết án Giêsu. Quan nghĩ hình phạt đánh đòn (verberio) cũng đủ cho dân Do-thái động lòng thương. Thế là quân lính đẩy chàng sang sân bên cạnh, giữa sân trồng một cột cao vừa đầu người.

Hình phạt đánh đòn sửa soạn bắt đầu.

Giêrusalem, thứ Sáu, 7 tháng Tư, năm 30 CN, 8 giờ sáng – 3 giờ trưa

Hay cổ tay bị treo lên đầu cột, Giêsu đứng trần truồng gần như ôm lấy cột. Hai tên lính Rôma đứng chênh chếch khoảng 45 độ phía sau, làm thành một góc vuông. Tay cầm ngọn roi (flagrum) cán gỗ. Đầu cán roi gắn 3 sợi dây da dài chừng 1m, bện xoắn chặt ở cuối dây, và tủa ra 3 sợi ở đầu. Mỏm dây gắn nhiều viên bi sắt, bên dưới gắn thêm những mẩu xương có móc. Chính móc này sẽ cấu ra một mẩu thịt khi tên lính rút roi về. Máu cứ theo đó mà chảy ra ngoài. Bi sắt có tác dụng làm chảy máu bên trong nhưng không đến nỗi làm tội nhân chết, vì chính tội nhân phải vác thanh ngang đến chỗ hành hình.

Tên lính thứ 3 tay cầm một bàn tính (abacus) để đếm số lượng roi. Tên thứ 4 đứng ngoài và thay thế nếu một trong hai tên kia cần nghỉ dưỡng sức. Tên đội trưởng là người thứ 5, giám sát mọi diễn tiến của quaternio.

Giêsu oằn người khi ngọn roi đầu tiên quật vào lưng. Cái cảm giác bỏng rát chạy ngang lưng từ vai đến hông khi sợi dây da vụt đi với tốc độ thật nhanh, [sau này, khảo cứu cho thấy vận tốc của ngọn roi phải nhanh hơn tốc độ của âm thanh, 340m/s, nên mới tạo ra âm thanh xé gió (sonic boom)]. Những viên bi sắt đập vào lưng tạo cảm giác ê ẩm lan ra khắp cơ thể. Mẩu xương có móc cắm phập vào lưng tạo cảm giác như kim đâm nhưng khi ngọn roi được kéo về chàng cảm thấy đau nhói. Phải mất chừng vài giây cả thân hình mới ngấm được cái đau đớn, sự bỏng rát của ngọn roi, và dịu dần đi. Nhưng sự đau đớn không có thời gian để thấm, dịu, và phai dần, vì ngọn thứ hai lại đập vào lưng ngay sau khi ngọn trước vừa thu về. Hai tên lính đứng chéo luân phiên vụt roi nên khoảng thời gian giữa hai lần roi hầu như rút ngắn lại. Nhịp nhàng và đều đặn như biểu diễn một màn vũ. Thân hình chàng vừa oằn xuống lại cong lên hứng chịu ngọn roi. Đầu, lưng, mông, và mặt sau của chân đỏ dần, hiện tượng chảy máu bên trong. Tĩnh mạch và động mạch bị dập, nứt, và vỡ. Máu ướt đẫm lưng, nhỏ từng giọt xuống sàn gạch, đỏ loang tạo thành một vũng sền sệt.

Giêsu chịu chừng hai ba chục roi thì không còn cảm giác nữa. Ban đầu thân hình chàng còn bật lên theo nhịp roi, sau chàng gần như bị treo bất động. Giêsu không còn sức để đứng nên thân hình chuồi theo thân cột, hai cánh tay căng thẳng. Luật Do-thái không cho phép đánh quá 39 roi, nhưng luật của Rôma thì không giới hạn. Người ta đoán Giêsu chịu ít nhất 100 roi, căn cứ vào dấu vết còn để lại trên tấm vải liệm Turin.

Đánh đòn xong, cả đội nghỉ ngơi một lúc rồi cắt dây. Hai tên lính phải đỡ lấy thân hình vì người chàng xuội như một xác chết. Giêsu mất máu, thiếu nước nên kiệt lực. Nghệ thuật đánh đòn của đội hành quyết đến độ tuyệt luân. Đánh chảy máu đến vậy mà Giêsu vẫn không chết.

Chàng tỉnh dần và cố đứng dậy. Chúng khoác chiếc áo choàng đỏ lên người chàng, "món quà" của quan Antipas tặng lúc ban sáng. Bọn lính cố ý khoác ngay khi vết thương còn rướm màu, vì chúng biết chẳng bao lâu vải sẽ dính bệt vào vết thương và sẽ rất khó khăn để gỡ ra. Hai tên lính đỡ hai bên, chúng dìu chàng vào ngục nằm ở phía sau dinh.

Giêsu kiệt lực hầu như không còn sức để thở. Nhưng chàng vẫn sống. Bọn lính tàn ác lại không để chàng yên tịnh dưỡng. Chúng kiếm một cây gậy, dúi vào tay chàng và tung hô chàng làm vua. Mỗi lần tung hô chúng lại khạc nhổ vào mặt chàng, và cười rú lên khoái trá. Thân hình chàng đẫm máu, mặt mũi bê bết rãi và đờm từ cổ họng bọn lính.
Nếu chúng dừng lại đó, người ta vẫn không giải thích được tại sao bọn lính Rôma lại có thể tàn ác đến thế. Dễ tính hơn, người ta hiểu vì bọn lính được huấn luyện để hành động dã man, như một cái máy. Lệnh ban ra thi hành không được suy nghĩ. Thực tế, sự dã man khủng khiếp của đội hành quyết thời Quốc xã trong Thế chiến II cũng đã bào chữa như thế. Sự tàn bạo và độc ác của Julius Caesar và các dũng sĩ Rôma qua những hình phạt khủng khiếp cho thấy đó là cách đối phó tiêu biểu của đế quốc Rôma đối với kẻ thù.

Nhưng không, bọn lính nghĩ thêm một cách để hành hạ Giêsu. Rhamnus nabeca là một loại cây có lá hình bầu dục và nụ hoa xanh. Đặc biệt cành cây mọc những gai nhọn cứng ở gần cuống lá, dài cỡ 2.5cm. Chúng cắt nhiều cành rhamnus nabeca, cuộn tròn lại như vương miện và đặt lên đầu Giêsu. Để giữ cho khỏi rơi, chúng ấn chặt xuống, gai nhọn cắm hết vào đầu. Máu bắt đầu rỉ ra từ vết đâm chảy từ từ xuống mặt. Những gai nhọn đâm thủng da đầu, đủ sâu để đụng đến màng óc và chàng cảm thấy nhức nhối không thể tả. Máu trong người không còn bao nhiêu, vậy mà khuôn mặt chàng bây giờ ướt đẫm máu. Chàng không còn đủ sức để chống đỡ, để phản đối, và bọn lính hành hạ chàng như một con vật.



Từng ấy thứ, cây gậy, áo choàng đỏ, vương miện, chúng nhạo báng chàng là vua dân Do-thái.

Philatô ra lệnh dẫn Giêsu ra trước mặt các thầy thượng tế. Chàng lảo đảo đứng dậy. Thị lực giảm sút, cảnh vật trước mặt chàng mờ hẳn. Giêsu thở khó nhọc, triệu chứng nước ứ dần quanh phổi. Giêsu biết trước sẽ chết đau đớn, nhưng đau đớn đến thế này thì quả thật chàng không thể lường được.

Đám thượng tế và kinh sư nhìn Giêsu dửng dưng, nét mặt vẫn lạnh lùng. Trong trí nhớ của các thầy, hình ảnh một chàng trai hiên ngang đứng giữa đền thờ trả lời dõng dạc, vặn hỏi từng câu làm họ cứng miệng chỉ mới 3 ngày trước mà sao thấy quá xa xôi trong quá khứ. Chàng trai hôm đó, Giêsu bây giờ là hai thái cực. Người ta không thể hình dung hai hình ảnh là một người. Tuy thế, thấy Caipha vẫn muốn đạt mục đích tối hậu; Giêsu phải chết.

9 giờ sáng. Philatô ngồi giữa ngai, hy vọng hình ảnh đau thương của Giêsu sẽ cứu chàng. Quan chỉ tay, "Đây là vua của các ông." Lập tức các thầy thượng tế la lớn, "Đóng đinh nó vào thập giá!" Philatô không muốn đối đáp với đám thương tế cứng đầu này một chút nào nữa, quan mệt mỏi lắm rồi. Philatô gặng hỏi lần cuối, "Không lẽ ta lại đóng đinh vua của các ông?" Thầy thượng phẩm trả lời, "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar." Suy cho cùng, câu nói này của thầy thượng phẩm là hình thức chối bỏ Thiên Chúa mà chấp nhận thần linh của Rôma. Câu nói này thật sự mới là lộng ngôn, là phản đạo. Vì một khi chấp nhận vua Caesar là mặc nhiên tùng phục thần linh của bọn ngoại đạo. Nhưng cả đám thượng tế của tòa án Sanhedrin vẫn không thấy điều gì sai.

"Thế ông này phạmn tội gì?" Philatô nghĩ còn nước còn tát. Nhưng đám đông la to hơn trước, "Đóng đinh nó!" Quan sai quân mang đến một bình nước, nhúng tay vào tỏ dấu vô can, "Ta không dính trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!" Đúng ra, trách nhiệm là của quan Philatô, vì theo luật chỉ có quan tổng đốc mới được ius gladii, "quyền dùng gươm" hay nôm na là quyền xử tử. Hành động rửa tay chỉ là hình thức chối tội gượng gạo.

Philatô giao Giêsu cho đội hành quyết rồi khoan thai vào trong chuẩn bị bữa trưa.

* * *

Hai tên lính khệ nệ khiêng một thanh ngang (patibulum) đặt lên vai Giêsu. Khúc gỗ sần sùi nặng chừng 30 đến 50kg, bề ngang chừng 2m. Mảnh dằm trên thân gỗ đâm vào vết thương trên người chàng. Máu lại rịn ra từng giọt.

Philatô viết thêm vào miếng gỗ dùng để đóng vào thanh gỗ bên trên đầu của tử tội dòng chữ, "Giêsu Nazarét, vua dân Do-thái" Caipha phản đối nhưng Philatô dứt khoát để như vậy.

Đội hành quyết vẫn 5 người, tên lính đi đầu cầm tấm biển có dòng chữ "Vua dân Do-thái" của Philatô, hai tên kèm hai bên, hai tên sau đẩy Giêsu tiến về phía trước. Đoạn đường từ dinh quan Philatô đến đồi Golgotha không xa lắm, non cây số nhưng thật là một khổ hình. Chàng mất máu quá nhiều, bị đánh bầm dập cả người, kiệt lực, khúc gỗ đè nặng trên vai. Từng ấy thứ làm đoạn đường dài như vô tận. Giêsu bắt đầu đoạn đường thương khó từ phố Thượng, qua cổng Gennath, đến ngọn đồi, nơi đó một cây cột to lớn đã được trồng sẵn.

Làm nghề mộc bao nhiêu năm, Giêsu biết cách khiêng gỗ, khúc to khúc nhỏ sao cho đúng. Nhưng chàng thật sự đuối sức. Tên lính chỉ huy lo lắng không biết Giêsu có đủ sức khiêng đến nơi không vì trên đường chàng ngã xuống đất nhiều lần. Hắn không thể để chàng chết trước khi đến ngọn đồi. Nếu chuyện đó xảy ra, hắn mang tội với quan tổng đốc. Quay sang bên, thấy một khách hành hương, người Phi châu gốc Do-thái tên Simon thành Cyrene, hắn bắt ông này vác giúp Giêsu.

Mỗi lần ngã, mỗi lần gai nhọn đâm sâu vào đầu. Mỗi lần quỵ, các vết thương lại có dịp rách toang. Mỗi lần rơi, thân hình chàng càng thêm rách nát. Trong khi đó, cách vài trăm mét, trong đền thờ, lễ Vượt qua đang lúc cao điểm, nên chẳng một ai để ý đến Giêsu, người mà họ tung hô làm vua chỉ cách đây mấy ngày. Caipha chỉ sợ dẫn Giêsu đi giữa đường phố Giêsusalem, đám đông nhận ra chàng và nổi loạn thì hậu quả thật tai hại. Cao điểm mừng lễ Vượt qua đã giải quyết cho Caipha được một bài toán hóc búa.

Vì mất máu nên Giêsu khát nước cùng cực. Lên đến ngọn đồi, bọn lính lột áo choàng ngay, nhưng vương miện vẫn cắm vào đầu. Áo vừa mặc vào hơn tiếng, đi trên đường đủ khô để dính sát vào vết thương. Bọn lính lột áo không nương tay, vải áo kéo theo lớp máu khô, miệng vết thương lại vỡ ra, gây cảm giác rát và xót. Chúng xô chàng ngã nằm trên khúc gỗ ngang chàng vừa thả xuống đất. Hai tên lính kéo thẳng hai cánh tay ra sát mút khúc gỗ, hai tên kia dùng một loại đinh nhọn, dài cỡ 15cm, đầu tán vuông, tìm một chỗ trên cổ tay. Nằm trong đội hành quyết lâu năm nên hắn tìm đúng vị trí nằm ở chỗ tiếp giáp hai khúc xương (radius và ulna) với cổ tay. Hắn đặt cái đinh vào đúng chỗ, nhớm nhớm cái búa rồi ra sức đóng mạnh xuống.



Đinh vừa xuyên qua cổ tay, Giêsu kêu lên đau đớn. Mặc dù đã kiệt sức, không mở miệng nói được một lời vì thiếu nước trầm trọng, thế mà sự đau đớn khiến chàng bật thành tiếng. Đinh đóng xuống làm kinh động gân tay, theo phản xạ cơ cánh tay kéo rút lại, nhưng sức kéo của tên lính ở hai đầu vẫn giữ cánh tay thẳng tắp. Lực bật của cánh tay chuyển xuống thân hình khiến người chàng cong vòng. Bốn tên lính hai bên, hai tên giữ cánh tay, hai tên đóng gần như một lúc, người chàng oằn đi trong đau đớn cùng cực của thân xác.

Ở chân đồi nhìn lên, bà Maria nước mắt đoanh tròng nhìn con không thốt nên lời. Bên cạnh bà, Maria Mađalêna ôm lấy vai, giữ cho bà khỏi ngã. Sự đau khổ nhìn con chịu hình phạt nhục nhã khiến bà câm nín. Bà nuốt lấy sự đau khổ, giữ trong lòng... mãi mãi.

Hai tên lính vực Giêsu đứng dậy. Hai tên đỡ đàng sau, vì sức nặng bây giờ nằm trên lưng tử tội. Dĩ nhiên, nếu quá yếu, tử tội vẫn có thể ngã sấp về phía trước. Khi đứng hơi vững, 4 tên lính đỡ lấy hai đầu khúc gỗ ngang. Trong tư thế đó, chúng kéo lết tử tội về phía cây cột (staticulum) đã trồng sẵn.

Cây cột cao cỡ chừng 2.4m. Rôma rất "độc đáo" nghĩ ra cách hành hạ tử tội ngay cả đến những giờ cuối cùng. Nếu muốn tử tội kéo dài sự hấp hối chừng vài ngày, giữa cây cột có đóng một bệ ngồi (sedile), để tử tội được "nghỉ mệt" trước khi chết tốt. Nhưng ngày mai là ngày Sa-bát, Giêsu phải chết thật nhanh. Vả lại, Caipha cũng muốn chuyện xong càng nhanh càng tốt. Vì thế, trên cây cột đóng đinh Giêsu không có bệ ngồi. Và cũng không có bệ nghỉ chân. Khi hai bàn chân không có bệ nghỉ, tử tội chết mau hơn.

Một tên lính ôm ngang hông đẩy lên. Hai tên lính giữ hai đầu khúc gỗ ngang dùng hết sức đưa lên cao. Tên thứ 4 leo lên một cái thang, dựa vào staticulum, hướng dẫn khúc gỗ ngang nằm vào ngàm đã đục sẵn trên thân cột. Sức nặng của Giêsu giữ chặt ngàm vào khớp nên hai khúc gỗ sẽ dính chặt vào nhau.

Cuối cùng, đội hành quyết đã treo được Giêsu lên cây thập tự. Đúng là treo vì thân hình của chàng lơ lửng giữa không khí. Xương tiếp nối ở hai cổ tay chịu đựng sức nặng của thân hình. Còn một chút nữa thôi thì sứ mạng của chàng ở trần gian xem như viên mãn. Hai đầu gối nghiêng một chút sang bên, tên lính chụm hai bàn chân lại ở một góc độ khá khó khăn, vì không có bệ nghỉ chân nên hai bàn chân phải song song với staticulum. Hắn dùng một loại đinh dài hơn, đóng xuyên qua hai bàn chân, đâm vào gỗ. Chàng không còn hơi sức đâu để cảm nhận cơn đau từ chân. Đóng cổ tay hắn còn nhắm chỗ, đóng vào chân hắn đóng bừa. Lạ thay, không một xương nào ở bàn chân chàng bị gãy.



Việc cuối cùng, tấm biển ghi dòng chữ "Giêsu Nazarét, vua dân Do-thái" của quan Philatô đóng ngay bên trên đầu Giêsu. Công việc nặng nhọc của đội hành quyết xem như xong.

Năm tên lính trong đội hành quyết đứng nhìn công trình của mình, xoa tay hể hả tỏ vẻ bằng lòng. Trong lúc nghỉ ngơi, bọn lính bốc thăm để xem ai may mắn được áo choàng của chàng. Tên chỉ huy còn nhạo Giêsu, "Nếu ông là vua dân Do-thái thì tự cứu mình đi." Cả bọn ngồi nhâm nhi bình rượu dấm. Nếu muốn tử tội chết nhanh hơn, chỉ cần đập gãy 2 xương ống chân. Khi đó, cả thân hình bị kéo xuống vì hai chân không còn đỡ giúp được nữa. Cơ bắp của vùng ngực bị kéo căng, hai lá phổi sẽ không có đủ ôxy và tử tội sẽ bị chết ngạt trong giây lát.

Ba tiếng đồng hồ trôi qua. Lễ Vượt qua ở đền thờ vẫn tiến hành, tiếng đờn và ca hát của nhóm Lêvi vang vọng lan trong không trung và nếu để ý lắng tai nghe, đám người ở đồi Golgotha vẫn có thể nghe được. Trong khoảnh khắc đó, bị treo trên cao Giêsu thấy mỏm đền thờ, thấy cả làn khói từ thịt xương con vật bị sát tế bay lên cao như lời nguyện xin tha thiết. Chàng nghe loáng thoáng giọng hát ca tụng Thiên Chúa. Cái chết nhục nhã của chàng cũng là lời nguyện cầu cao quý nhất dâng lên Chúa Cha. Giêsu không biết bao nhiêu người trong đền thờ thấy được hình hài xác xơ tiều tụy của chàng. Tin chàng bị đóng đinh chưa đến tai nhiều người, điều mà Philatô và Caipha vẫn muốn giữ kín đến giây phút cuối.

"Tôi khát," Giêsu kêu lên. Mười hai tiếng đồng hồ trôi qua chàng không có một hớp nước. Máu đang nhỏ đến giọt cuối cùng. Giọng của Giêsu thều thào nghe như muỗi kêu nhưng đám lính vẫn nghe. Một tên lính lấy giẻ nhúng rượu dấm nhỏ lên đôi môi nứt nẻ và teo quắt như lá khô. Chàng không còn sức hở môi để nếm giọt dấm nữa. Một lúc sau, Giêsu dùng tàn lực kêu lên, "Mọi việc đã hoàn tất."

Đầu chàng gục xuống như một cành cây gãy. Vương miện vẫn dính sát vào da đầu. Giêsu lịm dần. Chàng rơi vào tình trạng vô ý thức. Cổ giãn ra. Cả thân hình ngả về phía trước, kéo vai và cổ rời xa cột. Xương ở hai cổ tay đủ cứng để giữ cả thân hình chàng.

Người đàn ông – dùng 3 năm của đời người để rao giảng sứ điệp thương yêu không hề mệt mỏi, đôi chân chàng lấm bụi trên khắp nẻo đường để loan truyền một niềm tin mới, và sứ điệp yêu thương cùng niềm hy vọng đã vọng đến tai hàng nghìn người và ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống của hàng tỷ người mãi về sau – vừa trút hơi thở cuối cùng.
Giêsu thành Zazarét đã chết. Năm đó chàng mới 36 tuổi.

Giêrusalem, phố Thượng, 7 tháng Tư, năm 30 CN, 3 giờ trưa – 6 giờ chiều

Theo thông lệ, tử tội bị treo trên cây thập tự vài ngày sau khi chết; mục đích để xác phân hủy hoặc làm mồi cho bầy thú. Nhưng luật Do-thái không cho phép xác bị treo trên cây qua đêm (Đệ nhị luật, 21:23) trong ngày Sa-bát. Vì thế, đội hành quyết phải tháo gỡ xác Giêsu xuống khỏi cây thập tự và đem chôn vào huyệt dành cho bọn tội phạm.
Tên lính chỉ huy kiểm chứng cái chết của Giêsu bằng cách lấy lưỡi đòng đâm thẳng vào ngực chàng. Máu và nước dồn ứ chung quanh phổi và tim Giêsu phun ra ngoài theo lỗ đâm. Thấy Giêsu không động đậy, hắn ra lệnh 4 tên lính tháo xác. Quá trình đóng đinh đi ngược chiều, có điều Giêsu không còn cảm giác gì nữa. Thân hình chàng nằm dài trên mặt đất. Đinh bằng sắt phải được dùng lại. Bọn lính hì hục bẻ thẳng đinh, nhổ ra rồi bỏ vào túi.

Đám đông tản đi gần hết. Trên ngọn đồi buồn tênh, chỉ còn bà Maria, mẹ chàng, và Maria Mađalêna cùng một số phụ nữ khác. Đang khi bọn lính tháo gỡ đinh, một người thuộc nhóm Xađốc tên Giuse thành Arimathea tiến đến gần. Ông là người giàu có, thành viên của tòa án Sanhedrin, và là môn đệ bí mật của Giêsu. Ông là một trong hai người phản đối tòa án bỏ túi tại nhà Caipha, người kia là Nicôđêmô thuộc nhóm Pharisêu. Cả hai có mặt tại đồi Golgotha vào buổi chiều hôm đó. Họ được phép quan Philatô tẩm liệm xác Giêsu, vì quan tổng đốc muốn xong chuyện càng nhanh càng tốt.

Khi giữ xác và tẩm liệm xác Giêsu một cách công khai, hai ông đã tự tuyên bố đức tin của mình, đi ngược lại niềm tin truyền thống mà các thầy thượng tế duy trì. Giuse chôn xác Giêsu vào một ngôi mộ mới của gia đình. Đó là một cái hang đục sâu vào vách đá mềm. Hai ông đi ngược lại lề luật khi đụng vào xác chết trong ngày lễ Vượt qua; nghĩa là bị nhiễm uế và không thể dùng bữa chiều (seder) với gia đình hoặc cộng đồng. Theo luật, hai ông bị xem là "ô uế" và phải mất 7 ngày để thanh tẩy.

Hai ông mang xác Giêsu xuống khỏi đồi Golgotha, đến ngôi mộ đã định trước. Không còn thì giờ để lau sạch và xức dầu cho xác Giêsu theo đúng truyền thống Do-thái, ông Nicôđêmô mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương để ướp. Hai ông dùng vải lanh (linen) cuộn chặt thân xác Giêsu, cố ý để cuộn hờ phần đầu sợ lỡ chàng còn thoi thóp chưa chết. Phong tục Do-thái bắt buộc người thân phải mở cửa mả 3 ngày sau khi chết để xem xét lần cuối. Như thế, ngày Chủ nhật, cửa mộ sẽ mở ra để kiểm tra xác một lần nữa.

Hai ông biết chẳng cần kiểm tra làm gì vì lưỡi đòng đâm vào ngực chắc chắn kết liễu mạng sống của Giêsu. Xác sẽ nằm trong mộ tròn 1 năm. Sau đó, hài cốt bỏ hết vào trong một hũ nhỏ. Người thân có thể đục một lỗ nhỏ trên vách ở trong mộ để đặt hũ hài cốt, hoặc đem đến một chỗ khác.

Mộ của Giêsu nằm trong vườn bên ngoài tường thành. Tảng đá dùng để lấp cửa mộ nặng hơn trăm ký. Cửa một có đào một đường rãnh để đẩy tảng đá di chuyển. Đẩy tảng đá nặng nề lấp mộ dễ dàng vì đường rãnh xuôi chiều hơn là lúc mở cửa mộ vào ngày Chủ nhật.

Giuse và Nicôđêmô khiêng xác Giêsu vào mộ, và đặt lên trên phiến đá ong đã đẽo gọt theo hình dáng của thân hình. Ngôi mộ sực nức mùi trầm hương. Hai ông đứng nghiêm trang, trầm ngâm nhìn xác Giêsu, chào tiễn biệt lần cuối và bước ra khỏi cửa mộ.

Bà Maria đứng nhìn hai ông vần tảng đá che lấp cửa mộ. Maria Mađalêna đứng một bên. Giêsu thành Nazarét tiên đoán về cái chết của chàng, có lúc lại xin Thiên Chúa cất chén đắng nhưng cuối cùng niềm tin đã giúp chàng vượt qua được chặng đường gian khổ nhất trong cuộc đời ngắn ngủi. Nằm lặng lẽ trong bóng đêm của ngôi mộ, Giêsu an giấc nghìn thu.

Bên ngoài, nắng đã tắt sau ngọn đồi.

Dinh Philatô, Giêrusalem, thứ Bảy, 8 tháng Tư, năm 30 CN, ban ngày

Quan Philatô có khách. Khách không phải một người mà rất nhiều người; Caipha và nhóm Pharisêu. Thầy bước hẳn vào dinh vì lễ Vượt qua đã xong nên không sợ nhiễm uế nữa. Lần đầu tiên, Philatô đọc được nét sợ hãi trên khuôn mặt của Caipha. Kể cũng lạ, khi Giêsu còn sống, Caipha một hai cố giết cho bằng được, bây giờ Giêsu đã chết, cả thành Giêrusalem ai cũng biết tin, thế mà Caipha lại sợ chàng thì thật khó hiểu. Hỏi ra mới biết Caipha sợ hậu hoạn, "Trước khi chết, tên này có nói sau 3 ngày sẽ trỗi dậy. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước."

Lời yêu cầu nghe ra hợp lý, vì nếu biết Giêsu còn sống, dân chúng sẽ nổi dậy với hy vọng chàng sẽ thống lãnh họ làm cuộc cách mạng đánh đuổi Rôma. Philatô gật gù đồng ý. Quan cắt cử một đội lính đi canh giữ. Họ túc trực ngày đêm trước cửa mộ, dứt khoát không cho ai lai vãng.

Mọi chuyện rắc rối do Giêsu gây ra xem như đã giải quyết ổn thỏa. Tòa án Sanhedrin và Rôma sẽ bình yên. Nếu đám đông theo Giêsu có tính toán trút mối hận này lên quan thì ít nhất chưa thấy một động tịnh gì. Còn 11 môn đệ chết nhát của Giêsu không đáng lo vì sau khi thầy bị bắt họ trốn chui trốn nhủi, tản mác ra khắp nhà dân chẳng thấy bóng dáng đâu. Họ sợ là phải, thầy mình mà còn bị bắt và chết nhục nhã đến thế thì mạng sống đám học trò có sá gì.

Philatô thở phào nhẹ nhõm. Vài ngày nữa quan sẽ trở về Caesarêa, thành phố nghỉ mát ven biển. Chẳng mấy chốc, quan sẽ quên đi mọi rắc rối xảy ra ở Giêrusalem, và nhất là không bị các thầy thượng tế của đền thờ làm phiền nữa.

Mộ Giêsu, Chủ nhật, 9 tháng Tư, năm 30 CN, sáng sớm

Trời tờ mờ sáng. Chẳng bao lâu ánh nắng đầu tiên trong ngày sẽ chiếu sáng cảnh vật Giêrusalem. Hôm nay tính đúng 3 ngày kể từ lúc Giêsu chết. Maria Mađalêna nhanh nhẹn đi ra mộ để xem xét xác Giêsu. Để có bạn, Mađalêna rủ Maria đi cùng cô, không phải Maria mẹ Giêsu. Đường sá ở phố Thượng an bình, ngay trong ngày Giêsu bị đóng đinh cũng bình an như thế. Caipha thành công trong việc giữ kín chuyện giết Giêsu. Ít ai biết, và nếu biết cũng chẳng làm được gì vì uy quyền của thầy to lớn quá.

Hai cô len lỏi qua đường phố nhà cửa, và tiến về cổng Gennath. Hai cô đi theo đúng con đường nhục hình của Giêsu nhưng thay vì leo lên đồi Golgotha, hai cô rẽ ngang bước vào vườn chôn xác Giêsu. Trên đường, hai cô lầm lũi bước, không ai nói một lời nào. Trên tay Mađalêna cầm theo bình dầu thơm. Vừa đi cô vừa nghĩ đến thầy Giêsu, người mà cô đã đổ cả bình dầu thơm lên chân và dùng lọn tóc để lau khô. Theo chân thầy lưu lạc khá lâu, cô học hỏi được nhiều nơi thầy và tình thương của cô theo thời gian lớn lên.

Ngày Giêsu chết, cô đứng lặng lẽ ở chân đồi, nhìn lên cây thập tự nước mắt đoanh tròng. Cô vẫn không hiểu được sứ mệnh của thầy Giêsu, chết cho người mình yêu. Yêu thì ai chẳng yêu, nhưng yêu đến coi rẻ mạng sống mình thì cô cứ mãi cau mày. Từ ngày xức dầu thơm cho thầy Giêsu, cô chưa có một cơ hội nào nữa. Hôm nay, ngày mở cửa mộ theo phong tục, cô lén ra mộ để xức dầu cho xác thầy lần cuối. Cô biết xác chết 3 ngày đã bốc mùi, bởi vậy cô mang rất nhiều dầu thơm. Magđalêna còn rủ Maria mang theo một bình nữa với ý định sẽ đổ lên đất từ cửa vào đến trong mộ để át mùi hôi.

Cô chợt nhớ đến một chi tiết quan trọng. Hai người phụ nữ chân yếu tay mềm thế này thì sức đâu mà vần tảng đá che kín cửa mộ? Magđalêna đánh tay lên trán tự trách mình, tay kia loang choạng suýt làm rơi bình dầu thơm. Mà nếu biết trước cô cũng chẳng làm được gì. Mấy môn đệ khỏe mạnh như Phêrô, Anrê, Giacôbê, và Gioan chẳng thấy tăm hơi đâu. Hôm qua là ngày Sa-bát, cô nghỉ ngơi cả ngày, sáng nay tất tả ra mộ không kịp suy nghĩ, cô cũng chẳng biết quan Philatô đã ra lệnh cho lính canh giữ mộ suốt từ mấy hôm trước.

Vừa suy nghĩ, chân cô vẫn bước đều. Vườn im lìm khi cô thoáng thấy cửa mộ. Cô bước nhanh chân. Không một bóng người. Cô chết sững khi thấy tảng đá lấp cửa mộ đã được vần sang bên. Cô vội vàng bước vào mộ. Bên trong mộ trống hoác. Trên phiến đá đặt xác Giêsu, cô thấy tấm vải lanh liệm xác thầy đặt nằm ngay ngắn. Tuyệt nhiên không thấy xác Giêsu đâu. Mùi trầm hương còn thoảng trong không khí.

Mãi đến nay, xác Giêsu vẫn không một ai tìm thấy.

Hạ Ngôn

Thêm bình luận
Xin các bạn vui lòng tôn trọng người đọc trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết lời bàn. Xin dùng tiếng Việt có dấu. Cám ơn!

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.