Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng đã kết thúc. Kết quả là phe Bảo Thủ thắng phe Cấp Tiến. Cứ 4 năm một lần, toàn dân Mỹ lại có dịp chứng kiến những chiêu độc đáo, và những đòn độc địa trong suốt cả năm của hai phe nhằm hạ bệ uy tín của đối phương. Nhưng lúc nào cũng thế, hễ bầu cử xong thì những chỉ trích cũng buông xuôi. Tất cả đều chung sức để cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh và hùng cường. Gạt quá khứ sang bên để cùng nhìn về tương lai. Đó là điểm son của nền văn hóa Mỹ.

Thế mà lần này, điểm son đó đang bị bôi đen. Bôi bẩn thì đúng hơn. Bôi bẩn bởi phe Cấp Tiến. Họ cho rằng lối bầu theo cử tri đoàn (electoral college) không còn giá trị nữa, mà nên căn cứ vào lá phiếu phổ thông (popular votes). Tính đến ngày 11 tháng 12, sau khi kiểm phiếu lần hai, số phiếu phổ thông bầu cho Clinton là 65,788,583 và cho Trump là 62,955,363. Như thế, số phiếu phổ thông của Clinton vượt Trump hơn 1 triệu 83. Nhưng Trump lại chiếm 306 phiếu của cử tri đoàn từ 30 tiểu bang, trong khi Clinton chỉ chiếm được 232 từ 20 tiểu bang và thủ đô Washington, D.C . Con số cần để thắng cử tri đoàn là 270 trong số 538.
Đây không phải là lần đầu ứng viên thua phiếu phổ thông nhưng thắng cử tri đoàn. Trump là ứng viên thứ 5 trong lịch sử bầu cử của Hoa kỳ thắng ngược như thế. Chuyện không phải lần đầu nhưng phe Cấp Tiến lại làm ầm ĩ không chấp nhận kết quả của cuộc bầu cử. Nhà tỉ phú George Soros đã ngầm xúi dục những kẻ ủng hộ Clinton nổi loạn, bằng cách diễu hành bạo động ở các đường phố, đập phá các cửa hàng, cửa tiệm... gây tình trạng hỗn loạn ở các thành phố của ít nhất 5 tiểu bang. Ngay cả Obama cũng chẳng lên tiếng, một cách ngầm ủng hộ sự bạo động và nổi loạn của các cử tri. Chưa bao giờ đám Dân chủ và phe Cấp Tiến lại có hành động nông nổi đến thế. Hiến pháp Hoa kỳ đã đặt ra cách bầu cử (lạ kỳ) không giống ai từ hơn hai trăm năm nay. Đi ngược lại là vi hiến. Obama và đám Cấp Tiến đang vi hiến và đặt nước Mỹ trước nguy cơ của một cuộc nội chiến. Chính họ là đầu mối sự chia rẽ, và sức mạnh đoàn kết truyền thống đang bị những con vi khuẩn Cấp Tiến xâm nhập và chắc chắn sẽ làm suy yếu nước Mỹ. Kẻ thù ở bên ngoài, gồm đủ mọi thế lực, từ khủng bố đến bành trướng, từ cộng sản đến cơ hội, từ chủ hòa đến phản chiến... chúng đang mở cờ trong bụng, chờ đợi sự sơ hở của mặt sườn và tung đòn hạ thủ.

Ngày 19/12 vừa qua, cử tri đoàn chính thức bầu, và kết quả Trump thắng với 304 phiếu, trong khi Hillary chỉ đạt được 227 phiếu. Như thế, Trump chính thức trở thành tổng thống thứ 45 của Hoa kỳ, hợp hiến và được Quốc Hội nhìn nhận. Cuộc chơi đã kết thúc. Cho dù kết quả làm triệu người vui và cũng có triệu người buồn, nhưng người dân phải tôn trọng hiến pháp, chấm dứt trò giật dây, ngưng ngay chuyện xúi dục, giữ lòng đừng bất mãn, để trả lại sự ổn định cho xã hội. Tôi tin chắc đất nước Hoa kỳ sẽ không bao giờ rơi vào tình trạng chia rẽ (cho dù phân hóa) như lòng người Việt hiện nay. Tôi xin nói một lời, nếu quý vị buồn vì kết quả không xảy ra theo ý muốn thì nên nhớ rằng cuộc đời không ngoan ngoãn như ta tưởng. Cứ chờ 4 năm tới để bày cuộc chơi hơn thua lần nữa. Đừng than van, đừng đấm ngực, đừng khóc lóc ỉ ôi, vì làm như thế chỉ hèn người đi (grow up, mate!), và chỉ nên dành nước mắt cho người thân khi họ nằm xuống.

Vậy mà có một người vừa nằm xuống và chẳng mấy ai tỏ bày sự thương tiếc.

Leonard Cohen đã ra đi ngày 7 tháng 11, 2016, chỉ trước khi bầu cử một ngày. Cuộc bầu cử ồn ào, sôi động và chiếm hết thông tin trên những đài truyền hình, kể cả đài phát thanh. Sau bầu cử, xã hội Mỹ lại xáo trộn, và nhiễu nhương vì những kẻ nổi loạn vi hiến đang hoành hành tại các khu thị tứ. Tin tức mỗi buổi chiều đều chiếu ống kính đến sự đập phá, cướp bóc, bạo lực... nên cái chết của Leonard Cohen chỉ được loan báo vỏn vẹn một dòng ngắn, rồi rơi vào quên lãng.

Thế gian quên, nhưng tôi không quên. Tôi mến mộ cuộc đời ca nhạc của Cohen. Leonard Cohen sinh ngày 21/9/1934, là một nhạc sĩ đa tài người Gia-nã-đại, gốc Do-thái. Ông còn là ca sĩ, hát những bản nhạc do chính ông sáng tác, là nhà thơ, nhà văn, lại thêm tài hội họa. Ông bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật từ cuối thập niên 50 bằng thơ phú và tiểu thuyết. Mãi đến năm 1967, Leonard mới gầy dựng sự nghiệp âm nhạc. Bằng giọng hát trầm bass độc đáo, hình ảnh quen thuộc của Cohen là chiếc mũ dạ, cây đàn ghi-ta, và bộ vest màu xám nhạt. Từ đó, ông gửi cho đời nhiều bài hát qua nhiều album nhạc mãi cho đến khi ông nằm xuống. Album cuối cùng của ông mang tên You Want it Darker, (http://pd.npr.org/anon.npr-mp3/npr/fl/2016/10/20161012_fl_lccd.mp3) chỉ xuất bản ba tuần trước ngày ông từ giã cõi thế. Nghe ông than thở, “I’m ready, Lord”, trong ca khúc You Want it Darker như một điềm báo trước ngày giờ cuối cùng trên cõi thế. Ông ra đi trong giấc ngủ, tuy bất ngờ nhưng thật bình an. Chấm dứt một cuộc đời 82 năm, trong đó Cohen đã dồn hết tâm huyết cho nghệ thuật ròng rã gần 60 năm. Trên trang FB cá nhân, có dòng chữ, “Chúng ta đã mất đi một trong những nhân tài đáng kính về âm nhạc có tầm nhìn sâu rộng và phong phú.”

Với một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ trong một thời gian dài như thế, Cohen được vinh dự bầu vào những Hiệp hội nổi tiếng của Gia-nã-đại, như Canadian Music Hall of Fame, Canadian Songwriters Hall of Fame, Rock and Roll Hall of Fame. Ông còn được vinh danh nhận Order of Canada, một huy chương cao quý nhất dành cho công dân ưu tú, đã đóng góp công sức vào sự phát triển của đất nước. Năm 2011, ông nhận giải thưởng Prince of Asturias của nước Tây-ban-nha và giải Glenn Gould của Gia-nã-đại, một giải thưởng lấy tên của nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Glenn Gould.

Trong gia tài âm nhạc vĩ đại của ông, có nhiều bản đã trở thành nhạc cổ điển như "Avalanche," "I'm Your Man" and "Suzanne," nhưng tôi yêu nhất ca khúc Hallelujah.

Hallelujah là chữ rút ra từ Kinh thánh, tiếng Hebrew, có nghĩa là “Vinh Danh Thiên Chúa,” (Glory to the Lord, Praise the Lord), gồm 2 chữ:
1. Hallelu = ca tụng, vinh danh, ngợi khen; theo gốc La-tinh và Hy lạp là “Alleluia,”
2. và Jah viết tắt của Jahweh = Yahweh = Thiên Chúa (Giavê trong tiếng Việt).

Hallelujah được sáng tác vào lúc cuộc đời nghệ thuật của Leonard tuột xuống hố sâu. Đó là năm 1984. Những năm trước đó, sự nghiệp sáng tác và ca hát của ông trôi lững lờ, chẳng có gì nổi bật. Hai đĩa nhạc của ông phát hành không để lại một tiếng vang nào, nếu không nói là thất bại. Cohen trăn trở về hướng đi, tự rút lui vào hậu trường, và sống lặng lẽ một thời gian. Trong bối cảnh tinh thần xuống dốc, Hallelujah ra đời, và sống èo uột như một đứa bé sinh thiếu tháng, còi cọt. Leonard cho ra đời đĩa nhạc Various Positions, gồm ca khúc Hallelujah nhưng chẳng mấy ai chú ý. Vài năm sau, nghệ sĩ Bob Dylan (người vừa đoạt giải Nobel về Văn chương 2016) là người đầu tiên nhận ra giá trị của Hallelujah, từ lời ca đến dòng nhạc. Dylan trình diễn Hallelujah đôi lần vào năm 1988. John Cale đệm dương cầm và hát năm 1991, và mãi đến năm 1994 khi Jeff Buckle lồng Hallelujah vào đĩa nhạc Grace. Jeff giữ tiết tấu nhưng thêm vào mấy phiên khúc. Hallelujah bắt đầu được giới nghệ sĩ chú ý và trình diễn trên sân khấu. Phải đợi đến năm 2001, khi bản nhạc được dùng làm nền nhạc cho bộ phim họa hình Shrek thì Hallelujah thật sự nổi tiếng. Từ đó, ca khúc được liên tục trình bày trong các sô truyền hình, các bộ phim, và nhất là trong các chương trình tìm kiếm tài năng khắp nơi trên thế giới (X-Factor, American Idol, America’s Got Talent, British’s, Russia’s, Italia’s...etc). Dòng nhạc du dương đến nỗi các nghệ sĩ thành danh như Bon Jovi, K.d. Lang, The Canadian Tenors, Michael Bolton, Bono, Susan Boyle... đều mượn dòng nhạc và sáng tác thêm một vài phiên khúc cho riêng mình. Cứ vào youtube, và đặt tìm Hallelujah, chúng ta sẽ thấy hàng trăm nghệ sĩ chuyên nghiệp hoặc tài tử (nghiệp dư) trình diễn. Mỗi nghệ sĩ mang một phong cách riêng trong lối trình diễn, nhưng mối xúc cảm khi cất tiếng ca Hallelujah thì hầu như giống nhau. Nhân lễ kỷ niệm 30 năm (2014) ngày sinh của Hallelujah, người ta tính nhẩm có đến 300 phiên khúc do 60 nghệ sĩ nổi tiếng ghi vào đĩa nhạc. Hallelujah đã trở thành một bản nhạc cổ điển.

Hallelujah mang tiết tấu đơn giản nhưng khi cất tiếng hát nghe du dương như một bản thánh ca thần thiêng, êm ả như mây trời trôi, lững lờ như dòng suối chảy róc rách, nức nở cõi lòng như một lời kể lể, và khi hiểu được ý nghĩa của Hallelujah, nỗi cảm xúc dâng lên ào ạt như thác lũ, khiến người nghe ngẩn ngơ như lạc vào một thế giới huyễn hoặc của những nốt nhạc. Lời ca đệm bằng dương cầm hay bất cứ nhạc cụ nào đều nghe thanh thoát, nhưng tôi thích nhất là bằng cây guitar, không tiếng trống, cũng chẳng tiếng kèn. Bàn tay lướt trên 6 dây đàn thoát lên âm thanh bay bổng và rồi rơi vào tận đáy tâm hồn gây một chấn động mạnh lạ thường, và khi Hallelujah được lập lại vào cuối mỗi phiên khúc, người nghe sẽ cảm nhận được sức sống mãnh liệt của lời nhạc. Riêng tôi, mỗi khi nghe điệp khúc Hallelujah, cả người tôi run rẩy và cảm thấy một luồng hơi nóng chạy dài suốt sống lưng. Giọt nước mắt rơi như một lần ăn năn, nài xin sự thương xót của Đấng Tối Cao.

Hallelujah tưởng như một ca khúc ngợi khen Thiên Chúa, nhưng thật ra Cohen đã tài tình trộn lẫn tình yêu linh thiêng và tình yêu trần tục. Cohen đem những hình ảnh từ Kinh thánh vào trong ca khúc, và qua những nhân vật có thật này, người ta nhận ra tính yếu hèn của tội lỗi, lòng ăn năn, sự tha thứ qua lòng từ bi bao la của Thiên Chúa. Hãy lướt qua ý nghĩa của 3 phiên khúc tiêu biểu mà Leonard Cohen gieo trồng qua hợp âm C trưởng.

PK1: Now, I've heard there was a secret chord
Bây giờ, tôi nghe có một đoản khúc huyền nhiệm

That David played, and it pleased the Lord
Khúc nhạc Đavít dạo, và lòng Chúa hân hoan

But you don't really care for music, do you?
Nhưng bạn chẳng hiểu một nốt nhạc nào, đúng không?

It goes like this, the fourth, the fifth
Dòng nhạc tuần tự trôi, hợp âm bốn, hợp âm năm

The minor fall, the major lift
Dấu thứ (m) rơi, dấu trưởng thăng

The baffled king composing hallelujah
Vị vua bối rối cất tiếng ca hallelujah

Hallelujah (x4)

Điểm nổi bật của những phiên khúc này là vần điệu. Cohen gieo vần một cách tài tình. Ngay cả câu 3, chữ cuối là “you”, nhưng trong lối giao tiếp thân mật thì “you” biến thành “ya,” trong khi giới trẻ Mỹ lại biến thành “yo.” Khi “you” chuyển thành “ya” thì lại vần với hallelujah ở câu cuối. Câu thứ 4 mới thật hay. Làm thế nào để biết hợp âm của một bài hát. Thường thì nhìn vào cuối bài, xem nốt cuối cùng là gì thì đó là hợp âm chính. Cohen buông nốt đô (C) ở chữ cuối. Từ hợp âm chính (C), nhảy lên hợp âm thứ tư (perfect fourth) là F (fa), và thứ năm (the fifth) là G (sol), dấu thứ rơi (the minor fall) là Am, và trở lại F (the major lift). Tóm lại, C, F, G, Am là những hợp âm của ca khúc Hallelujah.

Đó là tiết tấu văn chương và âm nhạc, còn ý nghĩa linh thiêng thì sao?

Sách Samuel, quyển 1 (1Samuel 16:23), nói về vua Đavít, vị vua mang vinh quang đến cho dân tộc Do-thái, người hùng đã giết chết Goliát khổng lồ, bảo đảm sự sống còn cho đất nước, thoát khỏi bàn tay độc ác của quân Philistine. Saolê, vua đầu tiên của dân Do-thái, bị thần khí xấu xâm nhập vì không tuân theo lời dạy của Đức Chúa, và mỗi lần bị thần khí hành hạ, Saolê cần tiếng thụ cầm (harp) của Đavít để tâm hồn thư thái. Đó là đoản khúc huyền nhiệm mà Cohen mở đầu ca khúc Hallelujah. Ngay cả Đavít, mỗi khi tấu khúc nhạc thụ cầm, chàng vẫn không hiểu tại sao những nốt nhạc đó lại đuổi thần khí xấu ra khỏi tâm trí Saolê (but you don't really care for music, do you?). Chàng chỉ biết mỗi khi tấu khúc thụ cầm, chàng đã làm vui lòng Giavê (it pleased the Lord). Câu cuối diễn tả Đavít là “baffled king.” Lên ngôi vua, Đavít đã phạm nhiều tội tầy trời nhưng chàng vẫn cất tiếng ngợi khen Giavê. Chữ “baffled”, bối rối, luống cuống, lúng túng, mất bình tĩnh... để chỉ tâm trạng của Đavít khi tình cờ thấy Bathsheba tắm và sinh lòng dục trong phiên khúc tiếp theo.

PK2: Your faith was strong but you needed proof
Đức tin anh mạnh mẽ nhưng cần thử thách

You saw her bathing on the roof
Từ sân thượng anh ngẩn ngơ nhìn nàng tắm

Her beauty and the moonlight overthrew you
Nhan sắc dưới ánh trăng làm anh ngã quỵ

She tied you to a kitchen chair
Nàng cột anh vào ghế

She broke your throne, and she cut your hair
Nàng đập nát ngai vàng, và cắt cụt tóc của anh

And from your lips she drew the hallelujah
Đôi môi nàng thoát ra hai chữ hallelujah

Hallelujah (x4)

Đức tin là một ân huệ nhưng cần được tôi luyện. Cách hay nhất để tôi luyện đức tin chính là thử thách. Như lời khuyên, lửa thử vàng, gian nan thử sức; hoặc lửa thử vàng, vàng thử đàn bà, và đàn bà thử đàn ông. Nhược điểm của Đavít là sắc dục, Bathsheba, (2Samuel 11:2-5). Tình cờ trông thấy nàng tắm và sinh lòng dục. Hãy đọc lại đoạn sách kể tội ngoại tình của Đavít.

Vào một buổi chiều, vua Ðavít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời. Vua Ðavít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: "Ðó chính là bà Bát-Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết." Vua Ða-vít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà. Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Ða-vít rằng: "Tôi có thai."

Truyện kể những tội tày trời khác của Đavít. Vua sai ông Joab gọi tướng Uriah về nhà gặp vợ, với mục đích để ông ăn nằm với Bathsheba và nhận cái thai dùm vua. Khốn thay, tướng Uriah là một người chính trực. Trong khi binh lính đang gian khổ ngoài mặt trận, ông không muốn về nhà hưởng vui thú riêng. Ông ngủ ở cửa đền vua. Mưu kế không thành, vua lại sai tướng Uriah ra trấn giữ ở chỗ hiểm yếu nhất. Và lần này Đavít thành công. Uriah tử trận. Đavít chính thức lấy Bathsheba làm vợ. Đavít đã phạm ba tội tày trời: ngoại tình, lừa dối (thai), và sát nhân.

Hai câu 4 và 5 kể truyện của Samson và Dalilah (sách Thủ Lãnh: 16). Trong 20 năm, Samson làm thủ lãnh dân Do-thái và chiến đấu dũng mãnh với dân Philistines. Sức mạnh của Samson kỳ phùng địch thủ, không một ai có thể đối địch với chàng. Samson đẹp lòng Giavê nên thần khí ở với chàng. Về sau, Samson lỗi nghịch nên Giavê giận dữ. Samson quen Dalilah (một kỹ nữ), và ăn ở như vợ chồng. Quân Philistines bày mưu cho Delilah dùng sắc đẹp để dụ Samson nói ra nhược điểm của sức mạnh. Sau 3 lần thất bại, Delilah thành công bằng cách cắt trụi tóc của Samson trong lúc chàng đang ngủ. Giavê không còn phù hộ chàng, và sức mạnh cũng tan theo. Samson bị móc đôi mắt, mù lòa và làm nô lệ cho quân Philistines.

Thêm một điều, thời đó làm gì có kitchen chair. Cohen tưởng tượng ra chiếc ghế cắt tóc nhưng điểm chính là vần với chữ “hair” ở câu sau. Dalilah dùng sắc đẹp để hại Samson. Trong lừa dối, Delilah vẫn cất tiếng hát vang hallelujah.

PK3: Baby I've been here before
Này em, tôi đã một lần đến đây

I've seen this room and I've walked this floor (you know)
Căn phòng này, tôi gõ bước quanh quẩn

I used to live alone before I knew you
Tôi sống mòn mỏi trước khi biết em

And I've seen your flag on the marble arch
Và tôi đã nhìn thấy chiếc khăn quàng nằm trên vòm đá cẩm thạch

And love is not a victory march
Và tình yêu không phải là một cuộc diễu hành chiến thắng

It's a cold and it's a broken Hallelujah
Đó là sự lạnh lùng và tiếng Hallelujah vỡ vụn

Hallelujah (x4)

Phiên khúc 3 nói về tình yêu. Từ chữ “broken Hallelujah”, Cohen hé mở một tình yêu ngang trái. Cuộc đời âm nhạc của Cohen có lẽ có (nhiều) lần đem lòng yêu những người đàn bà đã có chồng. Như Đavít, như Samson, cả hai đều phạm tội ngoại tình. Cohen cũng thế, và trong vô vọng, ông vẫn thốt lên “hallelujah”.

Có người chê Cohen đem nhục dục vào tình yêu linh thiêng của Giavê yêu thương dân Ngài. Tôi lại thấy tính nhân bản rõ nét trong những phiên khúc. Sự yếu đuối dẫn đến tội lỗi làm con người xa rời tình yêu của Thiên Chúa. Khi ngã quỵ, con người cần cậy nhờ vào lòng từ bi của Thiên Chúa. Như Đavít đã mặc áo nhặm để tỏ lòng ăn năn. Ông ăn chay, nằm đất trong 7 ngày. Ông hối hận thật sự. Samson cũng thế, chàng hối hận vì đã phản nghịch Giavê. Sau nhiều năm làm thân nô lệ tủi nhục, Samson cầu xin Đức Chúa ban cho sức mạnh như trước, và chàng giật sập tòa nhà, giết chết hàng ngàn quân Philistines. Tôn vinh Thiên Chúa vào lòng từ bi bao la của Ngài. Sự vấp ngã của con người không quan trọng nữa, nhưng mấu chốt chính là sự ăn năn, lòng hối hận, chỗi dậy quay về nhà Cha. Nếu được thế thì chúng ta xứng đáng hát vang, “Hallelujah.”

Như đã nói ở trên, “Hallelujah” được các nghệ sĩ trình bày với nhiều phong cách khác nhau. Riêng tôi chọn lối trình diễn của Carly Rose Sonenclar, cô bé 13 tuổi hát ở vòng chung kết của chương trình X-Factor năm 2012, https://www.youtube.com/watch?v=LKozX5BoDNs. Giọng cô bé cao vút, nồng nàn, nghe thấm cả cõi lòng. Chỉ tiếc cô về Nhì trong cuộc thi năm 2012.

Phong cách của Pentronix khác lạ. Đứng hát giữa sa mạc mênh mông, và tiếng “Halllelujah” vang vọng mãi đến tận trời cao, https://www.youtube.com/watch?v=LRP8d7hhpoQ. Nhưng tôi yêu nhất vẫn là giọng ca trữ tình của Gloria Tang. Cô trình bày xuất thần bản nhạc. Ngồi trước cây dương cầm, chiếc áo đầm trắng tinh dài tha thướt, mười ngón tay gõ nhẹ lên phím đàn, cô hát bằng cả con tim. Ở phút thứ 2:07’, Tang gần như nức nở khi buông hai tiếng “hallelujah.” Tôi nghe lạnh cả sống lưng, cánh tay nổi da gà (goosebumps), (https://www.youtube.com/watch?v=1H0ou7FvNJY). Sao trên đời lại có những giọng hát mượt mà đến thế. Và tôi cũng tự hỏi, sao có những nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc tuyệt vời đến vậy.

Ước mơ của người nằm xuống là để lại cho hậu thế một di sản. Nhỏ thôi, không lớn nhưng sống mãi trong tâm tưởng của nhiều thế hệ.

Leonard Cohen đã làm được điều đó.

  Hạ Ngôn

Tài liệu tham khảo:
https://www.leonardcohen.com/
http://www.rollingstone.com/music/news/exclusive-book-excerpt-leonard-cohen-writes-hallelujah-in-the-holy-or-the-broken-20121203
https://en.wikipedia.org/wiki/Leonard_Cohen
https://www.lyricinterpretations.com/leonard-cohen/hallelujah
https://en.wikipedia.org/wiki/Hallelujah_(Leonard_Cohen_song)
http://www.newsweek.com/60-versions-leonard-cohens-hallelujah-ranked-303580
http://www.songfacts.com/detail.php?id=2504
http://itsallaboutall.com/leonard-cohen/hallelujah-meaning/

Viết Lời Bàn

Xin các bạn vui lòng tôn trọng người đọc trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết lời bàn. Xin dùng tiếng Việt có dấu. Cám ơn!

Mã sỗ
Refresh

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.