Buổi trình diễn của đoàn vũ Ballet Sao Mai để lấy tiền giúp trẻ em tàn tật được quảng cáo rầm rộ trên báo chí, truyền thanh và truyền hình. Tên Dung Nghi đứng đầu bảng với lời giới thiệu “tài năng trẻ đầy triển vọng đã rời sân khấu vì lý do riêng nay trở lại biểu diễn vì những mảnh đời bất hạnh”; lời quảng cáo còn chua thêm “ Dung Nghi là ái nữ của nữ nghệ sĩ Kiều Dung”. Ông Quang cầm tờ tạp chí đưa cho Vương Quyền:

-Người ta nói đến Dung Nghi như thế nầy đây, vậy mà nó bỏ Ballet. Chính ba cũng nhìn được khả năng của nó.

-Vâng, nhưng Nghi bướng lắm, nhất định không chịu núp sau tên tuổi của mẹ. Cô ấy đi về hội họa để tách biệt hẳn với sân khấu.

-Nó thích nghệ thuật sáng tạo hơn trình diễn. Nó không thích lặp lại những gì người khác làm.

-Con nghĩ khác; Nghi thừa hiểu nghệ thuật nào cũng có sự sáng tạo. Trình diễn có sự sáng tạo của nghệ sĩ trong cách diễn,nếu không đã không có những tài danh nổi bật; chỉ những người kém tài mới đi bắt chước cách ca diễn của người khác, dù đó là một nghệ sĩ lớn đi nữa, vì mỗi người phải có phong cách riêng mới đứng vững trên chiếu nghệ thuật. Đối với Nghi, cô ấy chỉ không thích lệ thuộc tên tuổi mẹ mình; muốn thế phải đứng ở một môi trường hoàn toàn khác, vì dù Nghi có theo hình thức trình diễn nào cũng không tránh khỏi sự gán ghép với nghề nghiệp của mẹ.

Đôi mắt ông Quang đầy xa vắng; ông biết Vương Quyền đang nói điều ông nghĩ nhưng không dám thú nhận. Gia đình nhỏ của ông có hai người đàn bà thì lại xung khắc với nhau; nhiều khi ông muốn nói với con gái về người mẹ tài hoa của nó nhưng đều bị Dung Nghi cắt đứt câu chuyện hoặc lái qua chuyện khác. Từ ngày có Vương Quyền không khí gia đình trở nên sôi động hơn; ngoài giờ làm việc Quyền thường đến với gia đình ông. Chàng rễ tương lai tỏ ra hợp ý ông già vợ trong bàn cờ tướng hay khi nói chuyện thời cuộc; ông vẫn thầm cám ơn người thanh niên cương nghị đã mang hạnh phúc đến cho đứa con gái duy nhất của mình. Dung Nghi như cái gạch nối giữa ông với cuộc đời; ông chẳng biết xã hội hiện tại như không thể quên cái xã hội đã qua. Ông biết sự ra đi sắp tới của mình chẳng có ích gì cho nơi mình đến cũng như quê hương mà mình rời bỏ; nhưng ít ra ở một vùng trời xa lạ ông quên được mình; ở đây một con đường cũng nhắc ông nhớ một kỷ niệm nào đó trong đời. Đã qua đi khá lâu nhưng trong ký ức đã mệt mỏi của ông thấy như mới ngày nào; gần quá mà cũng xa quá! Bạn bè còn lại chẳng mấy người, hạnh phúc thì vuột khỏi tầm tay. Ông không biết mình chờ đợi gì ở ngày mai, ngoài một chuyến đi không do mình chọn lựa!

-Ba ơi ba.

Có tiếng Dung Nghi, Vương Quyền đứng lên:

-Ba để con mở cửa.

Dung Nghi không về một mình; bên cạnh cô là một cậu bé mảnh khảnh da ngăm đen nhưng sáng sủa. Cậu ta nhìn Vương Quyền bằng đôi mắt e dè. Dung Nghi giới thiệu:

-Em Thụy, trưởng ban kịch trường mồ côi; còn dây là anh Quyền.

Thụy cúi đầu chào rổi theo vô nhà. Cậu ta nhìn ngôi nhà rộng sang trọng bằng ánh mắt lạc long. Dung Nghi rót nước cho cậu bé rồi quay sang ông Quang và Vương Quyền:

-Ba và anh biết không, cậu bé nầy có một lai lịch rất tiểu thuyết; năm nay 18 tuổi, Thụy mới được trở về với gia đình hai năm nay. Nhớ trường, và vì các em đồng cảnh ngộ Thụy trở lại trường tham gia chương trình Đại nhạ hội phối hợp với đoàn vũ Ballet Sao mai. Con đưa nó về để ba thấy them một mảng màu đen tối trong bức tranh nhiều màu của xã hội.

Cô nháy mắt với cậu bé:

-Nào, Thụy đích thân kể lại cuộc đời em, để ba chị và anh Quyền hiểu rõ thêm vở kịch “ Trẻ bụi đời” em sẽ cùng các bạn diễn trong đêm nhạc kịch.

Nhìn Thụy người ta khó đoán đã mười tám tuổi; vóc dáng cậu ta nhỏ bé như đứa trẻ mười lăm; chỉ có đôi mắt lúc nào cũng mở lớn nửa như ngơ ngác nửa như sợ sệt là nói lên nỗi long đong của số tuổi đời chưa quá thành niên.

Thụy hết nhìn Quyền lại nhìn Dung Nghi, cậu ta đã hiểu phần nào quan hệ giữa hai người qua ánh mắt nụ cười họ dành cho nhau. Cậu thầm nghĩ hai người thật đẹp đôi. Trong ý nghĩ của Thụy chỉ có nhân tình trong tiểu thuyết mới có thể đẹp được. Nhưng chị Nghi lại bảo đời Thụy giống tiểu thuyết, ví người ta không những viết về cái đẹp mà còn viết về tất cả những mảnh đời ở tận cùng xã hội. Thụy không biết bắt đầu từ đâu? Từ căn nhà ổ chuột ở xóm lao động quận 8 hay thời gian lây lất ở viện mồ côi? Thời điểm nào thì nó cũng chỉ là thằng bé lem luốc khốn khổ!

*********

Vào đời chồng thứ ba của bà, mẹ sinh ra nó! Thằng bé mới ra đời cùng chịu cái cảnh mà anh chị nó đã trải qua: đứa lớn chưa mang nổi thân mình đã phải mang đứa bé. Mẹ nó suốt ngày lang thang đầu đường xó chợ lượm ve chai còn ba nó sửa xe đạp lề đường. Xã hội không thiếu gì những đứa trẻ sinh ra trong những gia đình bần cùng như thế mà vẫn được ấp ủ trong vòng tay người mẹ, anhem Thụy thì không; chúng hầu như bị mẹ bỏ! Bà không chăm sóc đến bao giờ ngoài những việc thật sự bắt buộc phải có tay bà, còn thì ai làm gì thì làm, con muốn lớn lên cách nào cũng mặc. Buổi sáng bà ra quán chú Há đầu hẻm làm ly café đen, điếu thuốc thơm và tô hủ tiếu, không cần biết chồng con ra sao. Thỉnh thoảng quăng tiền cho chị nó mua gạo, mua khô hay nước tương. Ba nó, xanh xao, ốm yếu, lo cho con theo khả năng suy nhược của mình. Lũ nhóc có khoai ăn khoai có cháo ăn cháo, chẳng cần ngon dở cũng dành nhau mà ăn. Sau Thụy còn hai đứa em gái một em trai cũng cùng số phận. Thằng em bất hạnh hơn còn bị liệt hai chân!

Ngày ngày Thụy tha đứa em gái út ra quán chú Há, đứng ngẩn người nhìn những tô hủ tiếu ngút khói, những chiếc bánh bao trắng thơm phức được bày trước mặt thực khách; nó nuốt nước miếng lia lịa, cúi xuống bế em định đi về nhưng mùi thơm của thức ăn làm nó đi không nổi; cho đến một hôm Thụy chứng kiến một thằng bé đứng lì bên bàn ăn chờ người khách ăn xong chưa kịp trả tiền là nó lao tới bưng tô hủ tiếu còn thừa chút ít húp lia lịa. Nó đặt tô lên bàn, quẹt miệng rồi thản nhiên đi ra. Thụy chận nó lại:

-Mày vừa làm gì đó?

Thằng bé tỉnh bơ:

-Ăn. Bộ mày không thấy à?

Rồi như nghi ngờ điều gì nó hỏi:

-Mắt mày mở lớn thế bộ không thấy tao ăn hay sao?

Thụy gật:

-Thấy rồi, nhưng thức ăn đó đâu phải của mày?

Thằng bé ngẩn ra rồi cười rũ rượi:

-Tao làm gì mà có tiền mua. Mày ngạc nhiên à? Mẹ kiếp, người ta ăn không hết thì mình ăn, có sao đâu.

Nó nhìn nét mặt lem luốc và bộ quần áo nhàu rách của Thụy:

-Bộ nhà mày giàu lắm chắc?

-Tao nghèo.

-Nghèo mà bày đặt làm phách- nó bĩu dài môi- thằng khôn tự kiếm mà ăn, thằng ngu chờ mẹ nhăn răng đói dài.

Thụy cự:

-Tao không đói.

-Nhưng không no như tao.

Nó đưa tay quệt nước hủ tiếu chảy quanh miệng, tiếp:

-Và không bao giờ mày có món ngon mà ăn.

Thụy thầm công nhận thằng nhóc nói đúng, nó như đoán được ý nghĩ của thằng bé đứng trước mặt, khua tay:

-Không phải chỉ có hủ tiếu tiệm chú Há nầy đâu; còn nhiều món ngon vật lạ, cà ri nè, bò kho nè, canh chua cá bông lau nè…

Nước bọt ứa trong miệng Thụy:

-Mấy thứ đó ở đâu?

-Đâu chẳng có. Ngoài chợ, trong mấy nhà hàng.

-Mày đi nhiều lắm à?

Thằng bé dương dương tự đắc:

-Chứ sao. Mày không nghe người ta nói “ đói đầu gối phải bò” sao? Tao đi lung tung, chỉ dừng trước hàng ăn thôi.

-Ba má mày không cho ăn à?

Nó nhún vai như Tây:

-Làm chó gì có ba má. Tao ở với bà cô, có tiền mà keo hơn kẹo kéo, lại ác nữa. Bả cho chó ăn còn ngon hơn tao, kêu tao là đồ vô dụng, chó còn làm được việc giữ nhà, tao bất mãn, bỏ nhà ra đi.

-Rồi mày ở đâu?

-Lang thang vầy nè, mỏi chân thì tìm chỗ ngồi, mưa nắng tìm mái hiên.

-Ngủ?

-Trời đất, hiên nhà người ta chứ đâu. Nhà mày ở đâu?

Thụy chỉ vô hẻm:

-Trong kia.

Thằng bé tỏ ra thành thạo:

-Hẻm nầy tao biết, bị “cớm” bố hoài chớ gì. Trong này có mấy đứa quen tao, thằng cu Nhái, tư Cò, Minh Ruồi chuyên xách giỏ, bấm giây chuyền mày biết không?

Thụy gật:

-Biết. Nhưng tụi nó lớn sao mày quen được?

-Giang hồ mà, kể gì tuổi tác, thằng nào cao thủ thằng đó làm vua, tài đâu có đợi tuổi mày?

Thụy nhìn cái miệng rộng hoác trên gương mặt choắt cheo của thằng bé, nghi ngờ:

-Nổ vừa thôi…tao nghi mày là “tà lọt” của tụi nó.

-Còn lâu à “con”; không tin mày về hỏi tên Tý Cô đơn, tụi nó sẽ cho mày biết về tao.

Thụy thấy câu chuyện cũng hay hay; nhưng hay nhất vẫn là mấy món ăn hấp dẫn mà nó chỉ được nghe nói chứ chưa được nếm bao giờ. Nó hỏi dè dặt:

-Ê, Tý cô đơn, bộ mày ăn vậy khách không rầy sao?

-Rầy cái gì? Họ ăn xong rồi chứ bộ, mình có giựt lúc họ đang ăn đâu.

-Còn nhà hàng?

-Cám ơn mình là đằng khác, sạch tô, đỡ vung vãi dơ dáy.

Nó rủ:

-Bữa nào mày thử một lần đi; bảo đảm không ngon không ăn tiền.

-Thôi, hổng dám đâu. Má tao thấy thì chết.

Nói vậy chứ Thụy biết má nó chẳng bao giờ muốn biết tụi nó làm gì. Thằng bé “cố vấn”:

-Mày đừng hành nghề ở khu vực hẻm nhà mày.

-Không ở đây thì ở đâu?

-Chợ Rạch Ông, qua Nguyễn Biểu, thiếu gì chỗ ăn.

Nó tiến tới đặt tay lên vai Thụy, thân mật:

-Hẹn đi, tao chỉ tiệm ăn ngon để mày “ra nghề”.

Thụy im lặng; nhưng trong đầu nó đã định phải làm gì. Nó không biết mình có can đảm làm như thằng bé kia không, nhưng nếu có, chắc chắn nó sẽ đi một mình.

Rồi Thụy quên đi câu chuyện xảy ra đầu hẻm, quên luôn thằng Tí cô đơn; nó sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện đó nếu không có một sự việc xảy ra.

-Thằng Thụy đâu?

Tiếng the thé của má nó. Thụy nhìn len lét.

-Tiền ghi đề thối lại đâu, đưa tao.

Thụy ấp úng:

-Con mua khoai.

Má nó tru tréo:

-Ai biểu mày mua khoai? Tao biểu ghi bao nhiêu còn lại mang về cho tao. Sao mảy cãi, hả?

-Em đói, nó khóc quá con phải mua cho nó ăn.

-Em đói! Nó ăn! Nó ăn hay mày ăn? Thằng trời đánh- má nó chì chiết- bà vớ khúc cây gài cửa:

-Tổ cha mày, đi cho khuất mắt không tao quất cho một cây què giò bây giờ, đồ ăn hại.

Miệng nói tay bà phạt ngang khúc cây; Thụy nhảy tránh rồi thuận chân chạy biến khỏi nhà.

Nó lang thang mấy con hẻm cho đến trưa; thấy kiến bò bụng Thụy định quay về nhưng nó chợt nhớ luật lệ trong nhà là một đứa nào bị đánh đuổi thì sẽ không được ăn cơm ngày hôm đó, nó đã qua nhiều trận đòn mềm người, phải chờ má nó đi khỏi mới mò về lục cơm nguội lén. Nhưng hôm nay sự việc sẽ không như vậy nữa, nó đã có cách giải quyết khác.

Nó nhớ đến Tí cô đơn và cuộc nói chuyện đầy chất “giang hồ” trước tiệm hủ tiếu chú Há đầu hẻm.

Nó nuốt nước bọt, nhún vai một cái rồi quả quyết bước sải những bước dài ra chợ.

Địa điểm đầu tiên Thụy dừng chân là hàng cơm. Cơm trắng, bốc hơi nghi ngút và những món ăn bày quanh đẹp mắt. Thịt kho hột vịt, canh khổ qua dồn thịt, mắm chưng, đậu hũ…món nào cũng hấp dẫn.

Thụy đứng nép vào một góc, nhìn món ăn, nhìn người ăn. Nó có cảm giác của một tên trộm đang chờ chủ nhà đi khỏi để khoét vách. Trời nóng mà sống lưng nó một dòng nước lạnh xuyên suốt. Thụy sốt ruột, người ta ăn lâu quá, chậm rãi nhai như đếm từng hột cơm vậy, nhất là cái bà ngồi ăn đĩa cơm gà, miếng đùi gà vàng ngậy thơm phức mà bà ta ăn chẳng có chút gì ngon lành. Cho Thụy thì phải biết, loáng một cái là hết ngay. Một người rồi hai người trả tiền đứng lên trước đôi mắt thất vọng của Thụy: đĩa sạch nhẵn không còn lại tí gì! “Sao ăn tham thế không biết”? Thụy rủa thầm. Một đĩa cơm vun chùn với mấy miếng đậu hũ dồn thịt bằng bàn tay mà ngốn sạch. Thụy nuốt nước miếng. Bụng nó đói cồn cào. Mùi thức ăn bay lên càng tra tấn bao tử nó dữ dội. thằng bé khốn khổ nghĩ đến ngôi nhà trong hẻm sâu; giờ mầy mọi người đang ăn cơm. Nồi cơm to tướng nấu bằng loại gạo rẻ tiền nhất, một tô rau luộc, chén tương kho, chỉ có thế nhưng được no bụng. Lũ em nó sẽ dành nhau ăn, nhai vội, nuốt vội đến trợc cả mắt, lồi cả gân cổ. Nồi cơm hết rất mau cùng với những món trên mâm. Ngày hai bữa và bữa nào cũng như thế. Cầu cho được vậy mãi cũng là may. Đói quá, Thụy muốn chạy ù về nhà để kiếm miếng bỏ bụng, nhưng nó biết sẽ không có gì dành cho nó. Chờ ở đây thì biết đến bao giờ?! Người ăn xong đứng lên đi, người mới đến ngồi xuông gọi thức ăn…đĩa này tô kia thi nhau hết sạch mà không có miếng nào chạy vào bao tử thằng Thụy!

-Ê mày.

Thụy quay ngoắt lại, choáng người: Tí cô đơn.

Nó đã cố ý đi một mình, vì không vinh dự gì đi xin cơm thừa canh cặn, vậy mà lại gặp thằng quỷ nầy.

Tí bước tới đập tay lên vai Thụy:

-Làm gì ở đây?

Thụy lung túng:

-Đứng…chơi…

Tí cô đơn cười rất đểu:

-Chơi mẹ gì. Thú thật đi, mày đang “hành nghề” phải không?

-Không- Thụy chối yếu ớt.

Tí nheo mắt:

-Mày hèn lắm, đ…dám nhận việc mình làm. Ăn xin thì có gì xấu, người ta bỏ thì mình ăn, có cướp trên miệng ai mà sợ. Bọn móc túi nó còn không xấu hổ. Đói thì phải tìm cách sống.

-Tao…không quen.

-Thì tập. Có ai mới đẻ đã biết đi, biết nói? Cái gì cũng tập. Sao mày không đứng tiệm chú Há? Sợ người quen thấy chứ gì?

Nó nhíu mày có vẻ suy nghĩ:

-Thường thường mày có cơm ăn không?

-Có.

-Sao bữa nay đói?

-Má tao đuổi không cho ăn.

-Má ruột hay ghẻ?

-Ruột.

Tí cô đơn trề dài môi:

-Dỏm. Mẹ dỏm. Mẹ mà không cho con ăn. Cho mày hay, hồi còn sống, mẹ tao thương tao hết sẩy; có gì cũng dành cho tao ăn. Hồi đó tao sướng lắm, được ăn ngon, mặc đẹp. Nếu mẹ tao không bị tai nạn chết giờ nầy tao được đi học đàng hoàng chớ hổng lang thang!

Nó nhìn vẻ mặt nhăn nhó của Thụy:

-Mày đói lắm hở?

-Ừa, đói…

-Đi theo tao.

-Đi đâu? Tao đi hết nổi. Run đầu gối rồi.

-Gần thôi.

Vừa đi nó vừa nói:

-Mày phải kiếm ăn ở mấy tiệm hủ tiếu, phở hay hoành thánh gì đó đã…Thức ăn có nước họ hay bỏ dư mình húp nước lèo vừa ngon vừa bổ, biết không? Với lại trong nước thế nào chẳng sót lại ít bánh phở hay bún? Ít có ai bưng tô húp sạch, còn cơm họ ăn lấy no nên vét hết. Đó là kinh nghiệm của tao. Hồi mới “ hành nghề” tao cũng tính ăn chắc mặc bền như mày, tới chỗ bán cơm chờ rã họng chẳng có miếng nào.

Tí cô đơn dẫn Thụy đến một tiệm ăn khá lịch sự, xe hủ tiếu, hoành thánh bò viên để trước với đủ thứ ngon lành, nồi nước lèo ngút hơi thơm lừng. Tiệm của người Hoa. Tí kéo Thụy đứng ở một bàn ngay cửa. Nó kề tai nói nhỏ:

-Chờ nghe, cặp bồ bịch nầy ăn thế nào cũng chừa lại chút gì cho bọn mình. Thường đi với bồ người ta giữ ý không ăn tạp đâu, còn đói cũng phải làm bộ no, ăn ít, rồi về ăn cơm nguội. Tao hay “ đón lỏng” mấy anh chị nầy lắm, yên chí.

Nghe có lý Thụy bấm bụng chờ; nhưng chàng và nàng đều nuốt hai tô hủ tiếu sạch sẽ, thậm chí còn có vẻ thòm thèm. Tí cô đơn chửi thề, kéo Thụy sang bàn khác:

-Vậy hai người đó là vợ chồng mày ạ. Vợ chồng rồi thì cứ yên chí mà ngốn; bây giờ thì chắc như bắp.

Thụy bị cơn đói hành hạ dữ dội, nó vừa chờ, hai đầu gối vừa muốn ngồi bệt xuống. Người con gái ăn từng đũa mì nhỏ vừa nhìn Thụy rồi quay sang nói gì đó với thanh niên ngồi cạnh; nó nghe anh ta dằn giọng đủ cho cô gái nghe:

-Coi chừng bọn giựt dọc đó, em để ví sang bên nầy.

Câu nói làm Thụy nổi tự ái. Nhà nó nghèo thật nhưng chưa ăn cắp bao giờ, nó quên cả đói, cãi lại:

-Đừng nói bậy na, tui chưa có giựt của anh à.

-Vậy mày đứng đó làm gì?

Thụy nói huỵch toẹt:

-Tiu đói thì đi xin ăn. Anh hổng cho thì thôi đừng bày điều nói tôi này nọ.

Cô gái nhỏ nhẹ:

-Nãy giờ có thấy em xin đâu mà cho?

Tí cô đơn chen vào:

-Nó hổng dám. Nó chờ chị ăn còn dư nó ăn đó.

Thụy cảm thấy mặt mình nóng lên; nhưng lỡ bộ rồi, nó đành đứng yên chịu trận. Vả lại cô gái có vẻ tử tế; cô ta nói gì đó với người thanh niên rồi ngoắc Thụy lại:

-Em đói phải không? Ngồi đây chị gọi hủ tiếu cho em.

Thụy nhìn Tí cô đơn hỏi ý nhưng thằng lỏi đã biến đâu mất. Nó dè dặt ngồi xuống ghế, lấm lét nhìn hai người trước mặt. Giây lát, người phổ ky mang đến cho Thụy một tô mì lớn, một cái bánh bao để trên dĩa cẩn thận. Thụy bối rối ra mặt: cả đời nó chưa bao giờ được tôn trọng như thế. Nó nhìn người thiếu nữ ngồi trước mặt mình như nhìn một bà tiên huyền diệu.

Thằng bé đã ăn tô mì và cái bánh bao một cách ngon lành. Nó cố ăn chậm lại cho đỡ “ quê” nhưng không làm sao nhai chậm được; nó cứ ngấu nghiến cho đến miếng bánh cuối cùng. Bụng no căng, nó nhìn người thiếu nữ, nàng vẫn ăn chưa hết phần ăn ít ỏi của mình. Thụy lí nhí:

-Em cám ơn chị.

Nàng dịu dàng:

-Em no chưa?

-Dạ no.

Thụy đứng lên, mặt tươi tỉnh, chân hết run, nó bước ra khỏi bàn.

Thiếu nữ buông đũa hỏi thằng bé:

-Em có cha mẹ không?

-Dạ có, nhưng nhà em nghèo không đủ ăn.

-Tội nghiệp!

Nàng mở ví lấy tờ giấy bạc mười ngàn trao cho Thụy trước đôi mắt khó chịu của người bạn trai:

-Em cầm lấy mua bánh ăn.

Thụy cầm tờ giấy bạc trong bàn tay run rẩy. Nó bước ra quên cả cám ơn cô gái tốt bụng. Ra khỏi quán, Thụy vẫn tưởng mình mơ. Mười ngàn đồng, số tiền khá lớn đối với nó. Chợt nhớ ra điều gì, Thụy gấp nhỏ tờ bạc, nhét vào lưng quần. Nó biết không nên để Tí cô đơn biết nó có tiền.

Từ đó Thụy quen với cuộc sống lang thang kiếm ăn. Nó không đi chung với Tí cô đơn vì nhận thấy thằng nầy rất “ma le”. Thụy làm ăn quanh khu vực quận 5, bên kia cầu chữ Y, giang sơn của nó. Nó không gặp một sự phản đối nào từ gia đình bởi vì đối với cha mẹ nó, bớt một miệng ăn là điều đáng mừng. Cứ tối đến, nó mò về nhà ngủ, có khi còn mang về cho các em mẩu bánh mì, củ khoai lang. Mặc nhiên thằng bé khốn khổ trở nên đứa trẻ bụi đời vào tuổi lên chín.

Trong một chiến dịch hốt trẻ em lang thang và người vô gia cư sống lề đường, Thụy bị tóm cùng với một số trẻ em như nó. Họ đưa chúng đến một trường giáo dưỡng, và nó bắt đầu cuộc đời mới.

Thụy lớn dần cùng với đám bạn cùng trang lứa. Nó được học chữ, học nghề. Mặc dù đời sông khuôn khổ với kỷ luật sắt để làm mềm đến chú nhóc cứng đầu nhất, Thụy vẫn có cảm giác thoải mái yên phận; ít ra thì ngày cũng được hai bữa cơm mà không phải chầu chực xin xỏ.

Mười sáu tuổi, Thụy được cho ra khỏi trường. Nó chợt nhớ mình còn có một gia đình. Ngôi nhà ổ chuột ở xóm lao động hẻm 90 quận 8 hiện ra trong óc Thụy. Nó không biết cha mẹ và anh chị em nó còn ở đó không? Bảy năm trời còn gì! Thời gian đủ để thay đổi nhiều thứ. Ở trong trại, Thụy là một học sinh xuất sắc, có khiếu văn nghệ, được mpi5 người yêu mến. Nó được chọn phụ dạy lại các em nhỏ và làm trưởng ban văn nghệ của trường. Bước ra khỏi mái trường mà mình đã sống bảy năm, chia bùi xẻ ngọt với những đứa trẻ đồng cảnh ngộ, Thụy cảm thấy bùi ngùi. Thụy đó xe đò về Sài gòn và đi xe bus về cầu chữ Y, cảm thấy một chút chán nản khi thả bộ trên cây cầu quen thuộc. Nhưng nó cố quên ý nghĩ bi quan; tự nhủ mình phải tự tạo dựng cuộc sống bằng bàn tay khối óc của chính mình. Thụy muốn cây cầu dài mãi ra để mình không bao giờ đi tới đầu bên kia; nó không muốn về nhà vội. Một vai người quen ở hẻm 90 Âu Dương Lân đi qua mặt Thụy thản nhiên: họ làm sao nhận ra thằng Thụy lem luốc ngày xưa. Nó vẫn gầy yếu, năm tháng không làm nó mập ra bởi đã suy dinh dưỡng từ lúc lọt lòng, nhưng quần áo nó tươm tất, chiếc xách du lịch cũ khoác trên vai tạo cho nó một dáng vẻ nghệ sĩ. Thụy quẹo qua đường Phạm Thế Hiển, nó nhớ ba nó hay ngồi sửa xe đạp ở lề đường gần tiệm bán gỗ. Nếu ba nó còn đó nó sẽ theo ông về nhà, yên tâm rằng gia đình vẫn còn chỗ cũ. Thâm tâm Thụy không muốn về ngay nhà. Nó sợ một sự thật phũ phàng nếu bước vào nhà thấy toàn người lạ với những câu hỏi đầy ngạc nhiên; nó không biết lúc đó mình sẽ ra sao? Nó bước nhanh không dám nghĩ tiếp.

( còn tiếp)

 Lý Thụy Ý
Thêm bình luận
Xin các bạn vui lòng tôn trọng người đọc trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết lời bàn. Xin dùng tiếng Việt có dấu. Cám ơn!

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.