Người ta bươn bả đi tìm cái sống từ nhiều hướng và bằng nhiều cách. Xã hội vẫn dửng dưng với họ. Rồi người ta tìm cách trốn khỏi quê hương. Người tiếp người, mặc cho chết chóc, hãm hiếp, đủ thứ cực hình trên còn đường tìm đến một nơi xa lạ để tìm chỗ dung thân. Con trai, con gái đều muốn tìm tương lai, trước khi nghĩ đến cho mình một hạnh phúc. Đất nước nào sau những năm dài chinh chiến cũng gặp phải khó khăn, những người miền Nam bị mất mát quá nhiều, một niềm đau không tiện bề bày giải. Con gái nhìn quanh không dễ tìm đối tượng tình yêu, bạn trai trang lứa một số đi cải tạo. Anh nào không thì cũng chẳng dám nghĩ đến vợ con, sợ không biết lấy gì nuôi . Cả chục năm dài lẩn quẩn trong vòng tương lai và cơm áo không ai còn nghĩ tới chuyện riêng tư. Mười năm đối với tuổi con gái là một thảm kịch. Họ chỉ có một thời! Và thời đó đã qua trong khó khăn, tức tưởi. Khi ổn định được đời sống, nhìn lại lược gương chỉ biết khóc thầm. Khi xã hội tìm được cái nhìn đúng đắn thì nhiều người con gái đã qua đi tuổi trẻ. Lớp tuổi lỡ làng đâu phải là ít và phần nhiều là thành phần trưởng giả, bởi thế thà họ chịu phòng không chiếc bóng còn hơn nhắm mắt lấy một người chồng không ra gì. Khi họ nhắm đến người đủ điều kiện thì người này lại đuổi theo mục tiêu khác. Lớp thanh niên độc thân của thế hệ đàn em lại chênh lệch cả về tuổi tác lẫn ý thức xã hội. Một cô bạn học của Huy, tuổi Canh Dần, cũng ở vào trường hợp đó. Cô đã qua những năm tươi đẹp của một thiếu nữ yêu đời trong nỗi khắc khoải. Sự học bỏ ngang vì lý lịch, nhà cửa bị tịch thu. Cha, trung tá nhảy dù, cải tạo. Anh, thiếu úy không quân, học tập. Người yêu, một trung úy xuất thân từ trường Võ bị Đà Lạt bị tử thương trong lúc giao tranh. Người con gái ngơ ngác trước cảnh tan nát của gia đình. Tương lai đã mờ mịt lại càng đen tối thêm. Cả gia đình bồng bế nhau đi kinh tế mới theo chỉ thị của chính quyền. Một miền đất heo hút, cằn cỗi gần Phương Lâm. Vốn đã quen với nếp sống thành phố, người mẹ và ba đứa con chỉ biết có sự học hành lâm vào cảnh khốn quẫn. Xung quanh họ cũng toàn những con người cùng chung hoàn cảnh, dở khóc, dở cười. Rồi cũng ra tay làm nương, cuốc rẫy để sống, nhưng sự suy sụp tinh thần cộng với cuộc sống quá thiếu thốn khiến người mẹ không chịu nổi, bà qua đời sau một cơn bệnh dài ngày. Cô quyết định đưa hai em về thành phố. Họ ở nhờ nhà người quen ở Tân Định. Hàng ngày cô chị ra chợ Tân Định mua thuốc tây bán. Mua chui bán chạy nhưng cũng có đồng tiền mà sống. Và cô quen nghề, cuộc sống của mấy chị em đỡ khổ hơn. Có lần Huy gặp hai chị em đang đứng chợ trời. Anh hơi ngẩn người rồi chợt nhớ ra tên cô. Vì cuộc sống bươn chải, lăn lộn đã biến người con gái quý phái ngày nào thành đen đủi phong trần. Thúy nhìn anh bằng đôi mắt buồn bã, nhưng không nói câu nào về nỗi gian truân của mình. Không nói thì cũng biết, gia đình nào cũng không thoát được những ly tan, mất mát. Lớn lên trong chế độ cũ và tham gia vào xã hội mới ít nhiều đều mang mặc cảm. Thúy chỉ nói một câu về cái nhà của mình, cái nhà mà cha mẹ cô đã dành dụm gần cả đời người mới có được, bây giờ một gia đình cán bộ người Bắc vào ở: “Tôi nghĩ đó là điều phi lý. Ba tôi đi lính thì bị trừng phạt, còn mẹ con tôi có tội gì mà bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng?” Huy không trả lời. Làm sao mà trả lời được những câu hỏi như thế? Tùy mỗi người hiểu theo cái nhìn của mình, điều anh biết là những người như Thúy khó mà dung hợp được với xã hội mới. Chẳng thế mà lúc Huy hỏi chuyện chồng con, Thúy đã cười phá lên: “Anh bảo tôi lấy ai bây giờ?”

- Bà cứ làm như Sài Gòn hết người rồi vậy.

- Người thì không hết đâu. Đông hơn trước nữa.

- Vậy mà bà không “chiêu phu” được à?

- Anh biết tôi bao nhiêu tuổi rồi không?

Thúy hỏi lại. Huy bối rối:

- Thì cỡ tôi là cùng chứ gì?

- Cỡ anh là cùng? Nói nghe đơn giản ghê. Nhưng anh là đàn ông, ba mươi hay thậm chí năm mươi cũng không quan trọng lắm, nhất là trong vấn đề lập gia đình. Còn đàn bà tụi tôi, ngoài ba mươi là đã muộn màng. Đó là tôi nói thời đại nguyên tử, còn ngày xưa, ông bà mình mười sáu mà chưa có ai hỏi đã lo phát sốt lên rồi.

Huy cười:

- Nhưng nhìn bà...

- Vẫn trẻ đẹp chứ gì? - Thúy ngắt lời với cái nhếch môi đầy mỉa mai - Cũng có thể tôi chưa già, chưa xấu. Nhưng chính vì vậy lại càng rắc rối. Vài cậu bé học yêu cứ tưởng mình xứng đôi vừa lứùa. Một ông già góa vợ lại yên chí mình tìm chồng khẩn cấp. Thật không biết nên buồn hay vui.

- Có dạo nghe nói bà quen với cán bộ Hà Nội?

Thúy gật đầu xác nhận. Cô nói thêm:

- Toàn có trình độ, từng đi Nga, đi Tiệp nên dễ cảm thông. Anh ta có những hiểu biết hợp với mình. Nhưng một sự ngăn cách vô hình đã khiến tôi ngừng lại. Anh Huy biết không, con bé Cúc nói một câu xanh dờn “Chị nghĩ sao mà quen ông Toàn? Gia đình mình tan nát thiếu điều đi ăn mày cũng vì mấy ổng. Em không thể nào gọi anh ta là anh rể được đâu, chị giận em chịu”. Tôi điếng người, mặc dù giữa tôi và Toàn không có gì, tôi vẫn cảm thấy có lỗi với gia đình, người thân... Tôi đã lặng lẽ xa Toàn. Có lẽ đến bây giờ anh ấy cũng chẳng biết nguyên nhân. Nhưng thời điểm đó có tiến tới thì Toàn cũng sẽ gặp khó khăn vì vấn đề quan điểm.

Thúy thở dài:

- Vậy mà đã bao nhiêu năm rồi. Bây giờ Sài Gòn không còn không khí ngột ngạt nữa. Ngăn cách đã xóa dần. Con người đến với nhau thoải mái hơn bởi cái gì không đúng đắn bị loại bỏ và cái thật, cái đẹp đã được chấp nhận. Nhưng những người như chúng tôi, đáng lý đã là những người vợ, người mẹ trong một gia đình thì như một con thuyền không tìm được bến đỗ. Liệu xã hội sẽ làm được gì cho lớp thiếu nữ lỡ thời? Già thì chưa nhưng không còn trẻ nữa, và chắc chắn họ khao khát một mái ấm. Nhưng với ai bây giờ?

Câu chuyện với Thúy, Huy vẫn nhớ như mới hôm qua. Sau một thời gian Thúy vượt biên. Hiện cô định cư ở Canada và đã lấy chồng. Giấc mơ của Thúy đã đạt được nhưng còn bao nhiêu cô Thúy ở cái đất Sài Gòn này? Đó là lứa tuổi bằng Huy, hơn hay kém một chút. Con gái bốn mươi nghe như một tiếng thở dài chua xót!

Nhưng anh biết có phân tích chưa chắc Tứ Xuân đã hiểu. Cô bé có thể gật gù, sự hiểu biết từ một phía, chứ không thể nào thấu đáo và cảm thông những thận phận đáng thương đó. Bởi thế cô đã không chia xẻ được với hai người chị gái có tuổi đời chênh lệch với mình. Khi đất nước biến động, Xuân mới có mấy tuổi nên cô dễ hòa đồng với xã hội mới, nó không xa lạ với lứa tuổi cô. Khi Xuân lớn lên thì những vết thương chiến tranh đã hầu như thành sẹo. Có những điều người ta đã quên đi như quên một vết sẹo mờ. Nhưng có những mất mát không thể hàn gắn, đó là tuổi trẻ của con gái Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung. Đương nhiên không phải là tất cả, nhưng không phải là ít.

- Anh nghĩ gì vậy?

Tứ Xuân hỏi người yêu bằng ánh mắt long lanh đáng yêu. Cô không còn vẻ bướng bỉnh thách thức lúc nãy. Bình thường, con bé thật nhu hòa và yếu đuối nữa. Chính sự yếu đuối hầu như mong manh của con bé làm chết người hiệp sĩ trong Huy. Anh đã thua chính sự bất lực của cô gái bé bỏng này.

Nghe Xuân hỏi, anh mỉm cười:

- Bé muốn anh nghĩ gì nào?

- Nghĩ đến em.

- Bao giờ anh lại không nghĩ đến em?

Con bé bĩu môi:

- Hổng dám đâu. Anh ghét em thì có.

- Thế còn bé?

- Lúc nào em cũng nhớ anh.

- Kể cả lúc này?

- Nhớ luôn.

Mắt Xuân hơi sụp xuống:

- Tại vì lúc nào em cũng sợ mất anh.
- Cứ như thế này, chúng mình sẽ không bao giờ mất nhau, bé ạ.

Đột nhiên Tứ Xuân ngẩng phắt lên:

- Nếu - em tỷ dụ thôi nhé - Vợ anh không yêu anh nữa thì sao?

- Em nói gì vậy?

- Anh sợ à?

- Không. nhưng anh không tin chuyện đó xảy ra. Thủy rất hiền thục và tận tụy với chồng con.

- Chừng đó chưa bảo đảm sự lâu bền.

- Cũng có thể. Nhưng ít ra đó là niềm tin của anh.

- Đàn ông lạ thật.

- Em nói gì?

- Em nói đàn ông lạ thật. Trong khi mình vung vít hết cô này tới cô khác, lại chỉ muốn vợ chung thủy.

Cô ngừng một chút rồi tiếp:

- Tại sao phụ nữ không được phóng túng như đàn ông? Như thế có phải dễ chịu hơn không?

- Có ai cấm họ đâu?

- Anh nói. Dư luận không hét toáng lên đấy à.

- Gác dư luận qua một bên. Đó là cách duy nhất để có thể sống cho mình.

Tứ Xuân nheo mắt:

- Anh đang nói với người tình của anh và những người xa lạ, có phải vậy không? Chắc chắn không bao giờ vợ con anh được nghe những luận điệu này từ miệng người chồng, người cha gương mẫu của họ, đúng không? Có những người phụ nữ coi thường dư luận thì các ông mới bay bướm được. Như em chẳng hạn.

- Lại em. Sao quanh quẩn rồi cũng điệp khúc đó hoài. Tứ Xuân này, cho anh xin đi nhé. Anh không hề có ý đưa em vào một tình yêu không lối thoát. Anh biết đó là những chuyện không dễ chịu chút nào. Nhưng anh yêu em. Yêu, thế thôi và không dám nghĩ gì khác. Anh biết sẽ mất em một ngày nào đó. Vì em không thể cứ như thế này. Em sẽ lập gia đình. Khi yêu, người ta ích kỷ, anh cũng thế, anh không muốn mất em, nhưng thật lòng anh muốn em hạnh phúc.

Giọng anh trầm ấm như khúc hát hoàng hôn. Cả nét mặt người đàn ông cũng nói lên được sự chân thật. Tứ Xuân thôi không hành hạ người tình. Họ ngồi bên nhau, lặng yên như sợ hạnh phúc tan vỡ. Một hạnh phúc mà họ tự hiểu rằng rất mong manh. Nhưng cuộc đời có gì trường cửu? Chiều lặng lẽ đi vào tối. Huy không nhìn đồng hồ cũng biết giờ này Như Thủy đang chờ chồng bên mâm cơm đã dọn sẵn. Bao giờ cũng thế, người vợ cảm thấy lẻ loi khi ăn cơm một mình. Nàng đã quen nhìn thấy chồng trước mặt. Và những sự săn sóc nàng dành cho Huy trong bữa ăn trở nên cần thiết, dường như không phải cho anh mà cho chính mình.

Tim Huy nhói lên. Hình ảnh Như Thủy nhắc nhở bổn phận làm chồng. Anh có còn xứng đáng sau những giây phút đi hoang như thế này? Nếu Thủy biết?

Huy nhìn nhanh Tứ Xuân. Con bé đang chìm đắm trong mơ mộng. Gương mặt nhìn nghiêng thơ ngây và lém lỉnh. Bỗng dưng Huy không muốn khuấy động sự an lành của người yêu nhỏ. Anh ngồi yên chịu đựng sự ray rứt của bổn phận làm chồng.

*

*    *

Tam Hạ bước vào nhà. Mẹ cô đang ngồi với Nhất Đông trong phòng khách. Hai người ngồi nói chuyện gì đó, nhưng thấy Hạ, họ im bặt. Cô gái khẽ gật đầu chào chị. Cô linh cảm mẹ và chị đang nói về mình. Nhất Đông lên tiếng:

- Ý Yên chờ dì Hạ mãi đấy!

- Nó đâu chị?

- Hình như đang tham gia mục làm bánh.

- Với chị Thu?

- Không. Tứ Xuân.

Tam Hạ kêu lên:

- Khủng khiếp quá. Bộ tụi nó muốn cả nhà ngọng hết sao? - Cô nói tỉnh bơ như đang nói tới một sự việc nghiêm trọng.

Nhất Đông nói:

- Chắc tụi nó đợi kinh nghiệm của em.

- Lần này thì không ngọng mà... câm luôn.

Ý Yên vừa đi lên, nghe câu nói của dì, con bé cười rũ:

- Yên chí, nếu.. đúng như dì nói, sẽ có người chịu trách nhiệm, không phải dì cháu mình đâu.

- Ai vậy, nhỏ?

- Cô Tuyết “khéo tay hay làm” trên ti-vi. Món bánh Flan này cô ấy mới dạy tuần rồi.

- Nói không biết xấu hổ. Mình làm bắt người ta chịu.

- Làm theo liều lượng cô ấy chỉ mà. Theo “phát ngôn viên nhà bếp” Tứ Xuân thì sẽ thành công ngoài sự tưởng tượng, nghĩa là sẽ có món Flan caramen tuyệt hảo.

Nhất Đông trề môi:

- Khéo, mèo khen mèo dài đuôi. Cô giỏi vậy tôi đã được nhờ.

Ý Yên gân cổ cãi:

- Mẹ làm như con không giúp mẹ mỗi ngày. Món bò bóp thấu hôm chủ nhật ba khen đứt lưỡi luôn.

- Tại con gái rượu của ổng làm.

- Thôi ngừng cuộc chiến tranh ăn uống lại. Ý Yên vào đây, dì sẽ cho điểm.

Ý Yên nhún người làm động tác mời rất kịch. Hai dì cháu theo nhau vào bếp. Bà Tâm buộc miệng:

- Già rồi mà còn như con nít.

Nhất Đông an ủi mẹ:

- Má đừng bận tâm nhiều. Nói hoài rồi cũng chẳng giải quyết được gì, chỉ làm không khí gia đình ngột ngạt thêm.

Giọng người mẹ chùng xuống:

- Má cũng không muốn nghĩ làm gì cho nặng đầu. Nhưng cứ nhìn chúng nó ngày một lớn lại sốt ruột. Bạn nó, con Trúc lấy chồng năm ngoái, năm nay lại con Hoa...

- Má thương con, nhưng các em cũng có cái lý của nó. Con thấy mỗi lần đụng chạm gia đình thêm căng thẳng - Đông xích lại gần vuốt nhẹ cánh tay mẹ - má à, các em con đã trải qua những khó khăn mà ngày trước con không có. Chúng nó thiệt thòi nhiều. Như vợ chồng con mà đến bây giờ hơn mười năm rồi, khi nghĩ lại những ngày đó vẫn còn khủng hoảng. Tối qua nhà con mới nhắc lại... - cô rùng mình - khiếp thật...

*

*    *

Buổi chiều, đại úy Kim gọi trung úy Vinh:

- Cho canh gác cẩn thận nghe. Cầu Rạch Chiếc báo động đó.

Vinh nhìn về hướng Rạch Chiếc rồi quét mắt sang hướng Cát Lái:

- Đại úy gặp đại úy Hùng?

Kim gật, không nói thêm lời nào. Vinh đi vòng quanh mấy lô-cốt làm bản doanh cho đơn vị biệt lập 378, trấn thủ cầu Sài Gòn. Những lỗ châu mai phía trong đặt kín những bao cát. Ở đây không có trại gia binh vì là đơn vị trực thuộc Sài Gòn - Gia Định, lính đi đi về về. Chỉ có trung úy Vinh có một lô-cốt riêng để vợ chồng cùng ở. Hai người có con nhỏ nhưng gởi nhà ngoại. Vinh đi chầm chậm ngước lên cầu, cái cầu dốc cao, ranh giới giữa Sài Gòn và xa lộ. Lúc mới về ở, Nhất Đông nói với chồng: “Bất cứ đi đâu, cứ về đến cầu Sài Gòn là em thấy yên tâm như về lại giang sơn của mình, không còn cảm thấy lạc lõng nữa”. Anh đến một vọng gác nhìn lên: Tuyên, người bạn học cùng lớp với Đông ngày xưa đang ngồi gác, nón đội sụp xuống quá mắt như thường lệ. Có lần Vinh đã bảo Tuyên:

- Ngồi gác mà nón che mẹ nó mắt thì gác làm gì?

Tuyên gãi đầu:

- Kẹt quá, trung úy... Cứ sợ mấy “em” mình quen gặp ngồi canh thì ê mặt...

- Ai bảo đang làm sĩ quan thì đào ngũ. Về đại đội biệt lập là phước, nó mà đưa đi lao công đào binh thì khỏi lo có em nào thấy.

Tuyên cười giả lả, Vinh bỏ qua. Chàng biết Tuyên có “gốc”, có học, nên khi đào ngũ chỉ bị giáng cấp trung sĩ và thuyên chuyển về canh cầu Sài Gòn.

Vinh thả bộ hết cầu xuống đầu cầu A. Anh đi vòng quanh con đường cong quẹo xuống gầm cầu. Phía dưới là cả một hệ thống phòng thủ, toàn lô-cốt và những cột sắt chằng chịt. Lính qua lại cầu bằng con đường này. Những vọng gác chắc chắn. Mấy người lính ngồi binh xập xám, cười nói ì xèo, thấy Vinh họ ngừng, đưa mắt nhìn chàng chờ đợi. Một người lên tiếng:

- Binh một bàn, trung úy. Em xui tận mạng. Mậu binh một bàn rồi mậu lúi luôn.

Vinh cười cười:

- Đợi V.C. tới rủ binh cho đã.

- Nói ớn quá, ông thầy.

Vinh vừa nói vừa đi:

- Thằng nào tới phiên gác chịu khó mở mắt. Ngủ gà ngủ gật không còn chỗ đội nón, ráng chịu.

Người sĩ quan đại đội phó đi khuất, cuộc sát phạt tiếp tục. Đây là trò giải trí duy nhất dưới dạ cầu. Binh sĩ tụm năm tụm ba với những trò đen đỏ ăn tiền nho nhỏ hoặc thuốc lá tùy hứng. Những đại đội biệt lập trong tiểu khu Gia Định là những thành phần ưu đãi, trấn thủ quanh Sài Gòn và ngoại vi gần thành phố. Để được về đây, nếu không có bằng cấp “COCC” (con ông cháu cha) thì cũng chi bộn bạc. Lính cậu, lính kiểng là họ. Vinh về 378 gần được hai năm. Anh có một lô cốt riêng ở gần bộ chỉ huy. Nhất Đông gửi bé Ý Yên bên ngoại để ở với chồng trong “biệt phòng” chật hẹp, nhìn trong nhìn ngoài toàn bao cát. Vinh bước lên thang bằng những cây sắt cách quãng, hơi sắt và hơi nước làm gai người. Anh đi chậm. Tiếng cót két quen tai, Vinh tẩn mẩn nghĩ không biết mình đã đi dưới dạ cầu này bao nhiêu lần rồi? Anh nhớ từng vọng gác, từng cây sắt dùng làm tay vịn. Anh biết phải cúi thấp để đừng đụng đầu ở khoảng nào với chiều cao hơn thước bảy của mình. Vậy mà mấy hôm nay, tình hình bất an thấy rõ. Nhiều ngày liền, Vinh đứng trên vọng gác đầu cầu A nhìn xuống Tân Cảng. Tàu bè rộn rịp những chuyến ra đi không hẹn ngày trở lại. Người ta đi xe hơi đến và để lại những lời gửi gắm không mấy tha thiết. Giá đô-la tăng vọt. Mọi thứ đều chập choạng như đi trong bóng đêm. Tin chiến sự sôi sục trên những trang báo và bản tin truyền thanh. Vùng I rồi vùng II chiến thuật thất thủ từng phần. Tin mất Buôn Mê Thuột ngày 13-3 rồi tiếp đến Đà Nẵng rơi vào tay Việt Cộng 29-3-75, toàn những tin sấm sét. Tình hình binh sĩ chao đảo, vật giá tăng vô tội vạ. Là người lính, Vinh đã từng kinh qua những trận “đụng” nháng lửa trước khi về đơn vị “an dưỡng” này. Anh gặp lại vài đứa bạn đã tan hàng chạy về, nghe kể lại chiến trận với những tiếng chửi thề đầy ấm ức. Dường như họ không được quyền làm hết chức năng người lính. Một cục máu đông nào đó đã làm nghẽn sự lưu thông của máu khắp cơ thể. Có những phần đã chết và phần khác hấp hối. Phần tế bào nào mạnh mẽ sẽ vùng vẫy để tồn tại cho đến khi máu không còn về tim được nữa. Sự dẫy chết tức tưởi của nạn nhân bị bức tử. Chết mà vẫn thấy mình không đáng chết. Có thuốc nhưng không được chữa trị... Những ý nghĩ đưa Vinh đi hết vọng cầu.

Anh vào căn phòng duy nhất, vừa phòng ngủ, phòng khách và... nhà bếp của hai vợ chồng. Nhất Đông đang ngồi trên giường, cuộn tóc vào ống cuốn sau khi gội. Cô nhìn chồng bằng ánh mắt đầy lo ngại, trên trán anh hằn những nét suy tư. Đông hỏi:

- Có gì không anh?

- Chỉ có V.C. chưa vào Sài Gòn thôi.

- Nói thấy ghê.

- Anh nói thật đấy. Tối nay em về bên má với con đi.

- Có gì hả anh?

- Thì... đề phòng vậy thôi. Chiến tranh biết đâu được. Những đơn vị lính thường là mục tiêu ăn pháo, cầu Sài Gòn lại là mục tiêu lớn hơn. Đàn bà trẻ con không nên ở chỗ này.

Nhất Đông bướng bỉnh:

- Em sẽ ở với anh. Có gì vợ chồng cùng chịu.

- Chịu nổi nói làm gì. Em nghe lời anh, về má ít bữa. Bao giờ tình hình khả quan sẽ tính.

Vợ anh phụng phịu và rồi nàng vẫn ở lại đêm đó.

Hơn bốn giờ sáng ngày 28-4-75, đang ngủ, đột nhiên có tiếng nổ, rồi tiếng chân chạy... Vinh choàng dậy làm vợ cũng hốt hoảng ngồi bật lên:

- Anh...

- Suỵt...

Đông linh cảm có điều không lành, cô ôm cứng chồng :

- Anh đừng đi.

Vinh trừng mắt nhìn vợ:

- Em điên à, anh phải điều động lính. Em cứ ở yên đó.

Anh khoác áo giáp, đội mũ sắt lên. Đông run rẩy tuột chiếc áo ngủ, vơ vội đồ mặc đi chợ tròng vô. Tiếng súng nổ gần và nhiều hơn. Kẻng báo động dồn dập. Có tiếng la “Việt Cộng”, Vinh bảo vợ:

- Theo anh.

- Trung úy...

Người lính vừa gọi vừa lướt ngang phòng, chạy băng qua phía dạ cầu. Đông ríu cả chân. Cô cố gắng chạy theo chồng. Phía bên kia lố nhố nhiều bóng đen. Họ chạy nhanh nhưng rất êm (sau này Đông mới biết vì họ mang dép râu). Súng ngừng nổ nhưng tình thế nguy hiểm hơn nhiều. Hai bên gờm nhau rồi bỗng dưng súng nổ rộ lên cùng lúc. Vinh kéo Đông đến sau một cột cầu lớn rồi chạy băng theo đồng đội. Thật ra lúc đó Đông quýnh quáng không còn biết phân biệt được gì, cô chỉ biết núp sau thân cột như nhờ che chở. Không còn ai quan tâm đến cô, Đông run đến mức đứng không muốn vững nhưng cô sợ ngồi bệt xuống thì sẽ quỵ luôn không đứng lên được nữa. Súng nổ rát bên tai. Có lúc Đông có cảm tưởng như có một viên đạn đi lướt qua bên cô. Thời gian ngưng đọng trong giao tranh ác liệt, máu dường như đông lại trong huyết quản người thiếu phụ. Đông dang tay ôm cột cầu rồi lại rụt ngay lại vì sợ lộ diện quá nhiều. Cô như dán chặt vào cột ciment, mắt hoa lên và không dám nhìn vào bất cứ cái gì trước mắt. Đột nhiên có tiếng la:

- Anh bị thương rồi!

Đông nhận ra tiếng Vinh. Cô thất thần hét lên:

- Anh ở đâu?

Rồi thay vì lao về hướng chồng, cô lại ngồi bệt xuống, rũ liệt như một tàu lá chết. Đông không cử động được. Cô quá khiếp. Cho đến lúc Tuyên chạy ngang:

- Chạy, chị Đông.

- Tôi...

- Chạy... anh Vinh gục rồi.

Tiếng “gục” khiến Đông muốn ngất đi. Cô phải tựa hẳn vào cột cầu. Đến lúc này, Tuyên mới nhận ra Đông không còn đủ sức đứng, đừng nói đến chạy. Anh đến bên cô, xốc nách Đông kéo lên:

- Cố lên, tôi dìu.

Đông thiểu não lắc đầu:

- Chắc không chạy được.

- Phải rời đây. V.C. tràn vô rồi.

- Trời ơi!

Tuyên dìu cô chạy xuống vọng một. Đông không kịp mang dép, bàn chân trần chạm vào sắt đau và lạnh buốt. Cô chạy khập khiễng, nghiêng bên này, ngả bên kia. Cô nghe Tuyên nói:

- Vinh kìa.

Đông bò về phía chồng. Người lính đang cõng Vinh, nằm rũ trên lưng, đi một cách khó nhọc. Thấy Đông và Tuyên, anh ta đứng lại:

- Phụ chút đi mày. Tao đuối rồi, ổng bị thương nặng quá.

Đông khựng lại, nhìn Tuyên. Người Tuyên ốm yếu làm sao cõng Vinh nổi. Cô chợt hiểu người lính muốn trút gánh nặng để thoát thân. Đạn vẫn xé không khí lướt quanh họ. Những bóng đen lố nhố không biết bạn hay thù. Người lính đang cõng Vinh dợm đặt anh xuống. Đông bỗng đứng thẳng người rồi bằng một cử động không ngờ, cô giật cây súng trường trên tay Tuyên, chỉa thẳng vào người lính đang cõng chồng mình. Anh ta nẩy người như bị điện giật. Đông ra lệnh:

- Tôi yêu cầu anh tiếp tục đưa Vinh sang bên kia.

Anh ta lắp bắp:

- Nhưng...

Đông lạnh lùng:

- Tôi và anh này không đủ sức. Nếu có, chúng tôi không phiền anh. Vì sinh mạng chồng tôi, tôi sẽ nổ súng nếu anh đặt anh ấy xuống.

Giọng nói rõ, dõng dạc khiến anh lính nổi gai ốc. Anh ta miễn cưỡng xốc Vinh gọn lên rồi bươn bả đi thật nhanh, cố tránh họng súng càng xa càng tốt.

Nhưng bây giờ Đông bỗng đi rất nhanh. Cô quên cả mệt nhọc lẫn sợ hãi. Cô có trách nhiệm bảo vệ cho hai con người, không chỉ lo cho mình nữa. Nỗi lo vết thương của Vinh không biết nặng hay nhẹ khiến Đông thêm can đảm. Cô muốn sang đầu cầu A càng nhanh càng tốt. Sự yếu đuối biến đâu mất, Đông ghìm súng hộ tống Vinh qua được bộ chỉ huy bên kia. Người lính đặt Vinh như vất một gánh nặng lên chiếc divan nhỏ trong lô cốt. Đông ào đến bên chồng:

- Anh ơi!

Cô khóc. Đại úy Phước gọi y tá đến xem vết thương cho Vinh: anh bị miểng đạn ghim lỗ chỗ trên lưng, một vết toác khá lớn gần bên cột sống. Đông tái người. Cô hỏi người y tá:

- Có nặng lắm không?

- Chắc không đến nỗi.

Câu trả lời lấp lửng Đông quay sang đại úy Phước cầu cứu. Ông trấn an cô:

- Vào Cộng Hòa, họ gắp miểng ra là xong, chị ạ.

- Nhiều quá.

- Không sao đâu.

Họ ngừng nói, căng mắt nhìn hai người lính đang khiêng một người lính thứ ba vào. Mặt và người anh ta đầy máu. Họ đặt anh xuống. Người lính bất động. Đông nhìn thấy một hố mắt trống hoác. Anh ta đã chết. Cô rú lên một tiếng rồi bất tỉnh.

Tuyên khẽ lắc đầu:

- Chị ấy quá căng thẳng.

Máy truyền tin kêu, đại úy Phước bảo anh tài xế vừa trình diện:

- Anh đưa các thương binh đến thẳng Tổng Y viện Cộng Hòa rồi về gấp.

Người hạ sĩ dập gót đáp lại trong tư thế nghiêm tỏ ý tuân lệnh. Anh ta đưa tay lên mũ, chào kiểu nhà binh. Tuyên lên tiếng:

- Tôi đi với họ, thưa đại úy.

- Được, khai cho nhập viện. Gặp bác sĩ đại úy Châu.

Tuyên nhìn Đông đang cựa mình. Đại úy Phước đưa một ngón tay ra hiệu, Tuyên gật. Anh đến xốc cô lên:

- Ra xe đi Đông.

Mắt Đông chớp vài cái rồi mở ra. Cô nhìn quanh, ngơ ngác rồi rùng mình. Đây là cảnh thật. Vậy mà vẫn hy vọng mình vừa gặp ác mộng, Đông lắp bắp:

- Đi... đâu? Chồng tôi...

- Vinh đang đến nhà thương. Chị cũng thế. Chị cần nghỉ ngơi

( còn tiếp)

  Lý Thụy Ý
Thêm bình luận
Xin các bạn vui lòng tôn trọng người đọc trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết lời bàn. Xin dùng tiếng Việt có dấu. Cám ơn!

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.