- Đăng ngày 28 Tháng 9 2014
- Lượt xem: 3439

Ngày thứ Năm, Jun 26, 2014
Sau khi tham dự thánh lễ tại tu viện Don Bosco và ăn sáng, chúng tôi lên xe đi thăm Bảo tàng viện Vatican, nhà nguyện Sistine, và quảng trường thánh Phêrô. Khách hàng hương túa vào nhà nguyện Sistine như thác đổ. Nói là nhà nguyện nhưng tầm vóc của nó vượt ngoài dự đoán của tôi. Dọc theo hành lang dẫn đến Sistine, những vật lưu niệm bày bán la liệt trên sạp gỗ. Hai bên tường treo những bức hoành tráng choán một diện tích lớn. Người thì ngửa mặt chụp hình (không flash) vẽ trên trần, kẻ thì chụp hình treo hai bên tường. Những bức tranh vẽ trên trần nhà là những tuyệt tác, một kho tàng hội họa cho cả nhân loại chứ không riêng gì của Giáo hội Công giáo. Trần cao vút, thế mà họa sĩ Michelangelo nằm ngửa để miệt mài vẽ từ năm này qua năm khác thì quả thật đáng phục. Cần phân biệt tranh vẽ của ông và các họa sĩ khác đương thời.
Trường phái Phục hưng vào thời Trung cổ ảnh hưởng trên mọi lãnh vực văn chương, triết học, âm nhạc, nghệ thuật, chính trị, khoa học, tôn giáo và đậm nét nhất trong lãnh vực hội họa chú trọng đến vẻ đẹp thân hình của con người. Về mỹ thuật, nét đẹp của phụ nữ chú trọng đến sự đẫy đà, có da có thịt. Michelangelo vẽ đàn ông phải vạm vỡ, ngực nở, tay chân bắp thịt cuồn cuộn. Ông vẽ đàn bà với những đường nét tương tự, và dĩ nhiên chẳng bao giờ có eo. Nhưng đặc biệt nhất là tác phẩm của ông hoàn toàn không có quần áo che thân. Còn các họa sĩ khác đương thời thì ngược lại. Bởi vậy, nhìn vào một bức tranh hoặc một tượng điêu khắc, chúng ta biết ngay đó là công trình của Angelo hay không căn cứ vào sự lõa thể của tác phẩm.
Đi theo rừng người vào đến nhà nguyện. Lớp sau đùn lớp trước nên dù có muốn dừng lại để chiêm ngắm hoặc chụp hình cũng không được lâu vì rừng người phía sau tuôn đi như trẩy hội. Quanh co một lúc, chúng tôi đứng trước cửa của nhà nguyện. Người giữ cửa giới hạn số người vào. Đèn mờ, cấm chụp hình, và giữ yên lặng. Bức tranh "Ngày Phán Xét" in hằn trên tường là một trong những tuyệt tác của Angelo. Bức tranh này ai cũng thấy được qua youtube, trong sách vở, hoặc trên các trang mạng nhưng phải đến và đứng trước công trình của họa sĩ Michelangelo rồi mới cảm nhận được sự vĩ đại của bức tranh, tài nghệ tuyệt luân của họa sĩ có một không hai, và để hồn choáng ngợp về sự huy hoàng của Thiên chúa, của Giáo hội vào thời Phục hưng. Mỗi người sẽ có một cảm nhận khác nhau, ít hay nhiều, bình thản hay ngây ngất, hững hờ hay chết lịm... nhưng phải đến một lần trong đời để chiêm ngưỡng và thách thức sự thưởng thức nghệ thuật của riêng mình và rồi bàng hoàng đắm chìm trong bầu khí linh thiêng của không gian nghệ thuật thánh, và ước mơ thời gian đem chúng ta trở lại thời điểm của bức tranh để ngồi nghe Chúa giảng Tám Mối Phúc Thật, để thấy Chúa chữa lành một kẻ phung cùi... Cảm giác của tôi khó tả lắm, từ ngữ của tôi cũng hạn hẹp nên không thể nói hết những điều tôi muốn nói.

Trước mặt là hai cánh cửa gỗ cao vút gần đến trần. Đàng sau hai cánh cửa này là nơi tụ họp của Hồng Y đoàn để bầu ngôi vị Giáo hoàng. Lẽ dĩ nhiên, không một khách hành hương nào được vào trong phòng này. Bước sang đền thánh Phêrô, ngửa cổ nhìn lên trần cao vòi vọi để chiêm ngưỡng những tuyệt tác của những họa sĩ cống hiến cả đời mình để tô đậm nét huy hoàng cho Giáo hội. Gần sát vòm cung thánh là một bàn thờ có mái che dựng đứng nhờ 4 cột to. Đây là bàn thờ riêng để Giáo hoàng dâng lễ, và ngay dưới bàn thờ là mồ chôn xác thánh Phêrô. Mộ Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII cũng được đem lên để khách hành hương viếng và cầu nguyện.

Bước ra ngoài quảng trường thánh Phêrô thì trời đổ mưa tầm tã. Quảng trường rộng lớn bao la như vòng tay vươn ra ôm ấp hết tất cả nhân loại. Khách hành hương chen chúc trên hành lang của đền Thánh Phêrô. Đứng đợi tạnh mưa và chúng tôi làm quen được 3 sơ du học từ miền bắc Việt nam cũng đứng chờ tạnh mưa gần đó. Nghe chuyện trò bằng tiếng Việt nên chúng tôi bắt chuyện dễ dàng. Giáo hội Việt khởi sắc khi nâng tầm hiểu biết của các sơ ngày càng cao; chứ không như thế kỷ trước, chỉ biết nấu nướng, dạy giáo lý là xong đời mục vụ của một nữ tu. Những sơ này khuôn mặt khả ái, da trắng như bông bưởi, đẹp người, nói năng nhỏ nhẹ, và sắp tốt nghiệp Cao học và sẵn sàng trở về phục vụ giáo hội Mẹ.
Thăm nhà thờ thánh Phaolô ngoại thành (Papal Basilica of St Paul Outside the Walls), vị tông đồ của dân ngoại. Kiến trúc đồ sộ với cánh cửa sắt nặng cả tấn. Ở sân trước dựng tượng thánh Phaolô đứng oai nghi cầm gươm và tay cầm cuốn sách. Dưới bàn thờ là mộ của ngài, bên trên còn treo sợi dây sắt mà tín hữu tin rằng một đầu buộc vào cổ tay ngài, còn đầu kia vào cổ tay của một lính Rôma khi ngài bị bắt. Thánh Phaolô giết hại rất nhiều tín hữu trước khi Chúa làm ngã ngựa trên đường đi Damacus (xem Tđcv 9:3-7; 22:3-16; và 26:13-15). Rồi suốt quãng đời còn lại, Ngài hăng say rao truyền đạo cho dân ngoại mãi đến lúc tử đạo. Bên trong, hình vẽ trên trần và trên tường tuy không sắc sảo bằng nhà thờ thánh Phêrô nhưng sự to lớn, vĩ đại cũng ngang ngửa. Sự hoành tráng của hai nhà thờ xứng đáng với công nghiệp vĩ đại của 2 tông đồ cả của Giáo hội.

Hang Toại đạo (Catacombs of Saint Callixtus nghĩa là Mộ Huyệt), sâu 11m, 4 tầng hầm, lạnh luôn luôn ở 15oC. Giáo hội đã trải qua gần 300 năm bị bách hại, từ thời hoàng đế Nero (64 AD) của đế quốc Rôma cho đến khi hoàng đế Constantine cải đạo (312 AD) và nhìn nhận đạo Công giáo là tôn giáo duy nhất của đế quốc Rôma phía đông (Christian Roman Empire); trong khi đó ở phía tây, đế quốc Rôma vẫn tiếp tục trị vì cho đến năm 476 AD, (Western Roman Empire). Tín hữu thời giáo hội sơ khai ở Rôma phải đương đầu với sự thử thách cùng cực về đức tin và sự bách hại nguy hiểm đến cả đến mạng sống trong suốt một thời gian dài. Không ai ước tính được con số chính xác các vị tử đạo trong suốt 300 năm nhưng máu của các vị đủ nhiều để tưới cây đức tin và đưa Giáo hội đến thời điểm huy hoàng vào thời Trung cổ. Như Tertullian xác định trong Apologeticus, "the blood of the martyrs is the seed of the Church" (Chapter 50), "máu của các vị tử đạo là hạt giống của Giáo hội." Điểm này cũng giống tín hữu VN cũng bị các vua quan, đặc biệt là vua quan nhà Nguyễn bách hại trong một thời gian hơn 3 thế kỷ như thế, kể từ lúc hạt giống đức tin được gieo trên đất Việt (1544) cho đến lúc vua Hàm Nghi bị bắt (1888), tức phong trào Cần Vương chấm dứt. Giáo hội sơ khai ở Việt nam đã cống hiến cho nước trời khoảng 130 nghìn vị tử đạo, chưa kể đến hàng trăm nghìn tín hữu khác bị áp bức, tù đày chỉ vì "tội" tin vào Đức Giêsu.
Ở đây, người ta nên nhận ra một điểm kỳ diệu. Dân Do-thái muốn lật đổ đế quốc Rôma bằng vũ lực nhưng đế quốc này càn quét và tiêu diệt tất cả những lực lượng chống đối Do-thái, đồng thời đế quốc này cũng bách hại các tín hữu chỉ vì Tin Mừng của ơn cứu độ và luật Yêu Thương của Chúa Giêsu. Luật Yêu Thương của Chúa cuối cùng đã chinh phục một đế quốc hùng mạnh mà dân tộc Do-thái chỉ muốn khuất phục bằng vũ lực; cho dù phải mất đến gần 3 thế kỷ. Đế quốc Rôma khởi đầu bách hại đạo Công giáo và rồi nhìn nhận tôn vinh Thiên Chúa cũng từ đế quốc này.
Hang Toại Đạo thật ra là những đường hầm Kitô hữu tiên khởi đào để chôn cất các tín hữu qua đời, có đến 876km đường hầm mộ nằm trên một diện tích 12 cây số vuông. Trong các thời bắt đạo, anh chị em Kitô cũng thường trốn tránh và tụ họp nhau tại đây, để tham dự các lễ nghi phụng vụ. Sau này, xác những giáo dân tử đạo được các tín hữu đem chôn trong hang. Thật không thể tưởng tượng được ngay dưới lòng đất của đế quốc Rôma các tín hữu đã đào xới một diện tích rộng lớn đến thế. Vì lòng tin? Vì bản năng sinh tồn? Các tín hữu trốn tránh bắt bớ và sống dưới hang để được toại nguyện giữ đạo. Hang mang tên Toại đạo là thế.

Người ta đào thành từng hộc vuông vức trên vách đá ong rồi đặt xác người chết với y phục và cả đồ trang sức. Loại đá ong này khá mềm nhưng trở nên cứng nếu gặp khí trời. Những gia đình khá giả, họ đào sẵn từng hang dành riêng cho cả gia đình, trong hang đục từng hộc dành cho xác mỗi thành viên. Người ta ước tính các tín hữu được chôn ở đây lên đến nửa triệu người. Trên vách mộ khách hành hương còn thấy những hình vẽ thuật lại một câu chuyện nào đó trong Cựu ước hoặc trong Tân ước. Hình vẽ con cá được xem là phổ thông vảo thời đó, và khách hành hương vẫn còn thấy rải rác trên những phiến đá gắn trên tường. Sở dĩ hình con cá khá phổ thông vì đây là tín hiệu để các tín hữu nhận ra nhau cùng chung một đạo. Vẽ con cá đơn giản, chỉ cần 2 nét: một nét như con thuyền úp, và nét kia là hình con thuyền ngửa, nối 2 đầu lại với nhau thành miệng cá. Các tín hữu vẽ như thế này; một người vẽ thuyền úp, người kia vẽ thuyền ngửa và họ nhận ra nhau cùng một đức tin. Thêm một điểm nữa. Tiếng Hy lạp "cá" là Ichthys; đồng thời là chữ viết tắt của câu, Iesous Christos Theou Yios Soter (ghép những chữ đầu lại thành nghĩa con cá), nghĩa là Jesus Christ, God's Son, Savior; Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu độ.
Ngay tại cửa hang là mộ của 5 vị giáo hoàng tiên khởi tử đạo (Pontianus, Antherus, Fabian, Lucius and Eutichian). Ngoài ra còn hộc giữ xác thánh nữ Cecilia bị chặt đầu. Sau khi cải táng, tín hữu đưa thi hài của bà về đặt tại nhà thờ mang tên thánh nữ tại Trastevere, Rôma. Người ta đặt trong mộ một tượng đúc giống tư thế bà nằm chết khi tử đạo, nửa đầu úp nghiêng xuống đất, hai bàn tay xòe ra, bàn tay trái quắp hết vào chỉ để một ngón trỏ, bàn tay phải quắp ngón cái và trỏ và xòe hết 3 ngón còn lại. Khi chết, thánh nữ còn cố tuyên xưng đức tin qua việc xòe các ngón tay: bàn tay chỉ một ngón ngụ ý chỉ một Chúa, và 3 ngón của tay phải xòe ra ngụ ý Ba Ngôi. Trên cổ của bức tượng một vết chém chạy quanh đủ một vòng, đúng như cách tử đạo của ngài: bị chặt cổ.

Ngay cổng của hang Toại đạo có một nhà thờ nhỏ kỷ niệm khi thánh Phêrô trốn khỏi thành và gặp Chúa Giêsu đang đi vào. Ông hỏi, "quo va dis? Thầy đi đâu?" Chúa trả lời Thầy vào thành để chịu chết lần nữa. Ông hiểu ý và quay trở lại thành Rôma để chịu tử đạo.
Colosseum đổ nát. Một môn thể thao thịnh hành của dân chúng Rôma, lấy mạng sống con người làm thú tiêu khiển. Những nền văn minh xưa hầu hết đều trải qua thời kỳ nô lệ. Chủ nhân và nô lệ cũng mang hình dáng người nhưng giá trị lại khác biệt hoàn toàn. Có thể định nghĩa nô lệ như thế này, đó là con vật mang hình người. Chủ nhân được toàn quyền trên mạng sống của một nô lệ, như một con vật không hơn không kém. Một vết đen trong lich sử nhân loại.

Đứng bên ngoài nhìn vào đấu trường chỉ còn trơ lại thành quách như muốn thách thức với thời gian. Cho dù tường thành đã đổ nát gần hết nhưng vẫn đủ cho du khách nhíu mày suy nghĩ về lối kiến trúc vĩ đại, cách thức xây dựng vận chuyển những hòn đá tảng lên cao... một nền văn minh còn sót lại từng ấy cũng đủ làm con người thời nay chóng mặt.
Nhà thờ thánh Gioan Laterano, dành riêng cho Giám mục Rôma, tức Giáo hoàng. Nhà thờ xưa nhất trong lịch sử phương Tây. Chân dung của tất cả các vị Giáo hoàng đều khắc và treo trên tường. Riêng chân dung của Đức Thánh cha Phanxicô có một ngọn đèn nhỏ chiếu ngược lên làm sáng khuôn mặt. Không biết trên tường còn chỗ cho các vị GH khác không?
Nhà thờ Đức Bà Cả (Basilica of Santa Maria Maggiore). Đây là thánh đường lớn nhất dâng kính Đức Mẹ.
Ngày thứ Sáu, Jun 27, 2014
Đi Florence, một thời là cái nôi của nền văn hóa Châu Âu. Trên đường ghé vùng Perguria viếng nhà thờ thánh Phanxicô đệ Assisis. Cha linh hướng dâng lễ cho cả đoàn ở góc bàn thờ nhỏ ngay trong ngôi thánh đường. Cuối lễ chúng tôi hân hoan hát bài "Kinh Hòa Bình" của thánh Phanxicô. Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người... Hồn nhẹ tênh, phiêu du khi hát bài "Kinh Hòa Bình", tâm nguyện sống của thánh Phanxicô, ngay trong ngôi thánh đường dâng kính ngài.

Nhà thờ thánh Phanxicô tọa lạc riêng biệt trên một ngọn đồi, chung quanh là đường phố bao bọc, những con đường lát gạch nối liền qua từng khu phố nhỏ. Một nghệ sĩ trổ tài vẽ trên đường phố. Ông nằm xoài trên đất, say mê vẽ. Bên kia lề đường là một nghệ sĩ guitar đang trình diễn những bản nhạc xưa cũ. Bước chậm rãi lên dốc và thưởng thức một khung cảnh thật thanh bình từ hàng quán đến các nghệ sĩ đường phố, trên khuôn mặt của người dân và du khách, ngay cả một cụm hoa nở trên bao lơn của căn nhà nhỏ cửa đóng im ỉm cũng khoe một vẻ đẹp dịu dàng...tất cả đều toát lên một sự hiền hòa quyến rũ, mời gọi du khách dừng chân, ngồi xuống bên vệ đường, thưởng thức một ngụm càfê capuchino, và lắng nghe tiếng chuông vọng về từ trên đồi kia, và thấy lòng mình thanh thản hơn bao giờ, buông rũ hết ưu tư của đời người, và không còn muốn xuống đồi trở lại đời sống trần tục nữa.
Chúng tôi leo lên con đường dốc dẫn đến nhà thờ bà thánh Clare. Tục truyền bà là người bạn gái thân của chàng thanh niên Phanxicô, cậu công tử con nhà giàu, có thế lực thời đó. Thế mà vì lý tưởng cao vời là muốn dâng mình cho Chúa để phục vụ tha nhân, hai người chia tay để theo đuổi lý tưởng và nên thánh.

Ngày thứ Bảy, Jun 28, 2014
Từ khách sạn vùng ngoại ô đến địa điểm tháp nghiêng, Pisa, mất khoảng 3 tiếng lái xe. Ở đó dạo chơi cho hết buổi sáng, ghé vào mấy sạp bán đồ kỷ vật dọc theo lề đường. Phần lớn những người bán hàng gốc Phi châu.

Dạo quanh vùng downtown, những con đường nối như bàn cờ, vuông vức từng khu vực, buôn bán trộn lẫn. Vùng Florence nổi tiếng với những sản phẩm bằng da, nhưng những hãng như Louis Vuttons, Gucci cũng sánh vai và thu hút khách du lịch rất nhiều. Dọc theo đường phố là những tác phẩm điêu khắc thời Phục hưng, lõa thể và đường nét sắc sảo. Hiện nay tượng đúc từ Ý vẫn được tiếng là rõ nét và sắc sảo từng chi tiết.
Nhà thờ Florence Cathedral làm toàn bằng cẩm thạch trắng (Basilica di Santa Maria del Fiore) là một kỳ công xây dựng nằm giữa phố chợ. Được xây vào thế kỷ 15, thánh đường đứng thứ 4 về sự đồ sộ, to lớn.

Ngày Chủ Nhật, Jun 29, 2014
St. Anthony Padua. Lái xe nguyên buổi sáng để đến thành phố Padua, kịp tham dự thánh lễ kính thánh Phêrô và Phaolô vào giữa trưa. Nhìn bảng ghi lịch trình giờ lễ mới thấy thánh lễ được liên tiếp cử hành không ngơi, từ 8 giờ kéo dài mãi quá trưa. Nhà thờ tràn ngập giáo dân. Sau lễ, giáo dân đứng xếp hàng để thăm viếng mộ của thánh nhân, và tham quan khắp thánh đường. Thánh lễ bằng tiếng Ý (dĩ nhiên) lồng những bài hát bằng tiếng La-tinh như Kinh Thương xót, Lạy Chiên Thiên chúa... nghe thật thân quen.
Thánh Antôn Padua sinh ở Lisbon, Bồ đào nha, thuộc dòng Phanxicô. Ngài muốn đến Morocco để truyền giáo và chết tử đạo ở đó theo gương 5 thầy dòng Phanxicô đã chết không toàn thây nhưng cuối cùng ý Chúa muốn ngài đến Ý. Thánh Antôn dừng chân tại Ý và tình cờ cha bề trên khám phá ngài có tài giảng thuyết. Từ đó cha bề trên sai ngài dùng tài năng Chúa ban để rao giảng Tin Mừng. Ngài đã dùng tài diễn thuyết để truyền bá Đức Tin. Tài hùng biện của ngài nổi tiếng khắp vùng Bắc Ý. Ngài chết rất trẻ, lúc mới 36 tuổi, tại Padua. Ngài là người duy nhất được phong thánh chỉ 1 năm sau khi chết và được ĐGH Piô XII phong Tiến sĩ Hội thánh năm 1946 (hiện tại Giáo hội đã có 35 Tiến sĩ). Tương truyền khi cải táng, xác ngài bị hư rữa nhưng lưỡi và răng vẫn còn nguyên vẹn; một phần nói lên tài hùng biện (nhờ răng và lưỡi) của ngài. Hiện nay, trong nhà thờ còn giữ lại lưỡi và răng của ngài, bảo quản trong một hộp kiếng và trưng bày để khách hành hương chiêm ngưỡng.
Chúng tôi dành trọn một ngày ở đây, rong chơi, lê gót khắp phố chợ.

Ngày thứ Hai, Jun 30, 2014
Lên xe đi Venise, tiếng Ý là Venezia, một thành phố nổi trên biển. Thành lập vào thế kỷ 5, Venice được xây trên khoảng 118 hòn đảo nhỏ nối liền với nhau bằng những con kinh (water canal), hay bằng cây cầu nhỏ. Venice nằm trên một vũng, hay gọi là phá (lagoon, VN có phá Tam giang cũng có địa lý hình thể như Venice), là một khối nước khổng lồ cách biệt với biển nhờ những hòn đảo như hàng rào chắn nằm song song với bờ. Trước khi xây nhà cửa, người ta nhận chìm từng khối gỗ, đặc biễt loại gỗ alder được tiếng là chịu nước, xuống đáy vũng (phá). Khối gỗ lún dần xuống đáy và nằm an toàn trên lớp cát, bùn và đất sét rồi trở thành nền móng để chịu đựng một trọng lượng nhà cửa bên trên. Từ lúc xây dựng đến nay, mỗi thế kỷ Venice lún xuống 7cm, vậy mà từ cuối thế kỷ trước, cuộc điều tra cho biết Venice đang lún nhanh hơn dự đoán. Không những lúc, cả thành phố còn nghiêng về phía đông nữa. Với nhịp độ trái đất nóng lên (global warming) cọng thêm nền móng cũng lún dần, thành phố đang chìm xuống biển với nhịp độ báo động 1-2mm hằng năm; hoặc 1-2m/thế kỷ. Hiện tại, các nhà khoa học Ý đang tìm cách cứu nguy Venice và vẫn chưa có một giải pháp nào tuyệt hảo cả.
Chúng tôi đáp phà chạy theo con kinh lớn (grand canal) mất khoảng 45 phút rồi mới dẫn đến đền thánh Marcô. Quảng trường rộng lớn đón nhận du khách tấp nập. Quán ăn bày bàn ghế ra ngay giữa quảng trường, có nhạc sống trình diễn những bản nhạc xưa như Come Back to Sorento, La Cumpasita... bằng dương cầm, vĩ cầm, accordion, hồ cầm... Giọng hát trong trẻo của nữ ca sĩ quyện theo tiếng nhạc rập mình níu kéo bước chân du khách.

Giữa trưa, thủy triều lên, nước ngập cả lối đi dẫn vào cửa nhà thờ thánh Marcô. Nhà thờ này được xây dựng lại lần cuối vào thế kỷ thứ 11. Với chiều dài gần 80m, chiều rộng 62m, và chiều cao 42m, đền thánh thật sự là một điểm thu hút du khách. Người ta tin rằng Marcô là người thanh niên hoảng sợ bỏ chạy trần truồng khi Chúa bị bắt (xem Mc 14:51-52), kiểu bỏ của chạy lấy người. Sau khi Chúa lên trời, khoảng năm 49 AD, thánh Marcô đến thành phố Alexandria, Ai-cập để rao giảng Tin Mừng. Ngài thành lập giáo đoàn Alexandria và hậu duệ của giáo đoàn này là Chính thống giáo (Coptic Orthodox Church và Greek Orthodox Church) tồn tại mãi cho đến ngày nay. Thánh Marcô là vị giám mục tiên khởi của giáo đoàn này và được xem là vị tông đồ tiên khởi gieo hạt giống đức tin tại châu Phi. Bọn ngoại giáo đã tròng dây vào cổ rồi kéo lê ngài đi khắp đường phố cho đến chết. Đó là năm 68 AD. Xác ngài được chôn tại đó.

Đến năm 828, một thương gia gốc ở Venice đánh cắp xương của ngài đem giấu dưới những kiện hàng thịt heo để tránh sự kiểm soát của những nhân viên cảng Hồi giáo. Tín hữu Hồi ghê tởm thịt heo nên họ kiểm soát qua loa và xương của ngài được đem về Venice an toàn. Để tôn kính xương thánh nhân, nhà thờ được xây dựng đầu tiên trong thời gian đó.
Ngày hôm sau, đoàn hành hương bay lại tuyến đường đã qua hơn 2 tuần trước. Từ Venice đi Phailadelphia, rồi trở về California, chấm dứt 2 tuần hành hương đầy ý nghĩa.
III. CẢM NGHIỆM
Đi qua đoạn đường của Chúa rong ruổi suốt 3 năm, bằng chân, tôi mới thấm được tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, và cho riêng tôi. Tôi thường cầu nguyện cho tôi hiểu được mầu nhiệm của ơn Cứu độ, mầu nhiệm Chúa xuống thế mang lấy cái thân xác yếu hèn như tôi, hiểu được tại sao Chúa lại chịu chết nhục nhã trên cây thập giá (hình phạt đóng đinh vào thập giá dã man nhất vào thời đế quốc Rôma) thì tôi sẽ yêu Chúa cho đến chết. Đến Đất Thánh, rờ vào chỗ máng cỏ và tưởng tượng đến cái lạnh cắt da ở Bêlem, mà trên người Chúa không có được một cái áo ấm; con tôi vừa sinh ra đã mặc không biết bao nhiêu là áo ấm mặc dù ở trong nhà; nhìn tảng đá còn sót lại của núi Gôngôta, rồi mường tượng đến cây thánh giá được dựng đứng vào một buổi chiều lộng gió trên đồi cao, Chúa thân xác trần truồng, máu chảy gần hết từ lúc bị đánh đòn và rơi rớt trên con đường dẫn lên núi Sọ, còn máu đâu nữa để nhỏ từng giọt cho chúng sinh, và cho tôi; đứng ở vườn Cây Dầu mà nhớ đến lời Chúa xin thức với Thầy một giờ mà tôi không cho... rồi mới thấy hết cái thân xác thất tình lục dục của tôi thật chẳng đáng gì.
Thân xác con người gồm da thịt bọc lấy 350 khúc xương, chứa khoảng 4.7 lít máu nhưng chứa không biết bao nhiêu là thói hư tật xấu. Thiên Chúa sinh ra con người với ý tốt lành nhưng rồi con người hân hoan làm quen với tội lỗi để Chúa Giêsu phải chép miệng xin Chúa Cha cứu lấy chúng nó một lần... nữa. Và rồi Chúa nhất định sinh ra ở cõi trần ai này để chết, để cứu tôi thoát khỏi bóng đêm của tội lỗi. Suy cho cùng, ngay cả dòng dõi của Chúa cũng đủ mọi tật xấu tầy trời, thế mà Chúa cũng cam chịu chấp nhận sinh ra từ gia phả đó, như một minh chứng cho tình yêu vô biên của Con Thiên Chúa.
Nhìn lại gia phả của Chúa (xem Mt 1:1-17; Lc 3:23-38), ngay từ những ngày đầu đã vướng vào những thứ xấu xa rồi. Bà Sarai, vợ ông Abraham, ghen ghét nàng hầu Hagar vì cô này mang hòn máu của chồng. Bà xúi ông phải đuổi mẹ con Hagar vào sa mạc. Đến lúc Isaắc có 2 người con, ông yêu đứa con đầu Essau, bà vợ Rebécca lại thương đứa con thứ Giacóp. Đến lúc chúc lành cho trưởng nam thì bà lại mưu mô lồng áo da thú vào tay Giacóp để chồng (bị mù) cứ tưởng là con trưởng và chúc lành cho nó. Giacóp theo lời cha trở về quê hương để cưới vợ, gặp con gái ông bác La-ban là Rachel rồi ở rể 7 năm, làm lụng cật lực gọi là cái giá để được vợ. Đến ngày cưới, ông La-ban lại lập mưu đánh tráo cô chị Lê-a (lờ đờ) thay vì Rachel (nhanh nhẹn, đẹp). Vì thế ông Giacóp lại phải ở rể thêm 7 năm nữa để lấy được cô em, (xem Stk 29:15-30). Riêng 12 đứa con của ông Giacóp có ông Giuđa lại đi ngủ với đứa con dâu, còn con trai của ông lại bế tinh không chịu sinh con cho dòng dõi anh mình. Mười hai đứa con của ông lại ghen ghét đứa con út, Giuse, đến nỗi chỉ muốn giết em mình. May có người anh còn thương em nên dụ bán cho những kẻ lái buôn Ai-cập, tránh cái chết oan cho em mình. Đến thời vua David mới kinh hoàng. Thấy vợ một ông tướng tắm mà sinh lòng dục, ăn ở với bà đến có thai. Khi cái bụng bắt đầu nhu nhú thì lại sợ chuyện đổ bể, bày chuyện cho ông tướng về ngủ với vợ. Ông tướng hết lòng vì quân sĩ nên dứt khoát không về. Làm sao để che dấu tội lỗi của mình đây? Thế thì phái ông tướng ra chỗ hiểm yếu để quân địch giết đi. Khi chồng chết thì vua chính thức lấy bà làm vợ, hợp thức hóa cái bào thai. Vừa tội ngoại tình lại thêm tội sát nhân.
Đủ cả, ganh ghét, mưu mô, lừa dối, thủ đoạn, ngoại tình, sát nhân... một dòng dõi có quá nhiều tỳ vết đến thế mà sao Chúa lại chấp nhận? Muốn trọn vẹn ơn Cứu chuộc, Chúa có thể chuẩn bị cho mình một gia phả không tỳ vết, tinh tuyền từ tổ tiên cho đến ông Giuse, cha nuôi của Ngài. Được không? Thưa, được chứ vì có chuyện gì mà Chúa không làm được. Nhưng Chúa lại không muốn thế. Ngài muốn làm con cháu trong một dòng dõi với nhiều tỳ vết như thế, để cho thấy sự bất toàn trong mỗi chúng ta, và nhất là tỏ tình yêu thương hết lòng của Thiên Chúa đối với nhân loại, đối với tôi. Thiên Chúa, chủ vũ trụ, tinh tuyền, không hề tỳ vết, thế mà vẫn chịu tỳ vết, mang lấy dòng dõi có những khiếm khuyết trầm trọng, chỉ vì tôi. Hiểu được như vậy thì mới thấy tình thương của Chúa đối với tôi tăng gấp bội.
Lúc thăm viếng nhà thờ Chúa trao quyền cai trị Hội thánh cho thánh Phêrô (Church of the Primacy of Peter), thấy tảng đá (Mensa Christi) Chúa ngồi ăn với 12 tông đồ, tôi lẩn thẩn nghĩ đến cách tuyển mộ các thánh tông đồ của Chúa. Vào thời điểm đó, dân Do-thái đang bị đế quốc Rôma đô hộ. Hêrôđê (74 – 4 BC) là vua dân Do-thái và Rôma bổ nhiệm Pilate Pontius làm tổng trấn (govennor), đại diện hoàng đế Rôma tại Giêrusalem.
Vua Hêrôđê mang bệnh hoang tưởng về quyền lực, lúc nào cũng sợ có người cướp ngôi. Theo Bill O'Reilly, sử gia Hoa-kỳ, trong cuốn "Killing Jesus", Hêrôđê ra lệnh giết bất cứ ai nhòm ngó đến ngai vàng của ông. Những cách giết như treo cổ, ném đá, siết cổ, chém đầu, hoặc ném vào chuồng thú dữ, rắn cắn, đánh đập cho chết, hoặc một cách công khai như bắt nạn nhân phải nhảy lầu cao tự tử. Ngay cả đến vợ con ông cũng không tha; ông ra lệnh giết bà vợ đầu Marimane, và sau đó không lâu ra lệnh giết luôn 3 đứa con trai chỉ vì chúng vui mừng khi ông đau yếu và tưởng ngai vàng đã đến tay. Ai cũng nhớ là chính Hêrôđê đã ra lệnh giết hết các hài nhi từ 2 tuổi trở xuống khi Chúa Giêsu sinh ra, (xem Mt 2:16) vì nghe tin vua dân Do-thái ra đời nên ông sợ mất ngôi. Có sách ghi chép rằng ông tàn ác đến nỗi mà Ceasar Augustus – hoàng đế Rôma – nói, "làm con heo trong nhà Hêrôđê vẫn an toàn hơn là con trai của ông."
Một người ham mê quyền lực đến thế nên Hêrôđê làm đủ mọi cách để làm vừa lòng Rôma, đó là lệnh sưu cao thuế nặng để nộp cho hoàng đế Rôma. Trong thời gian trị vì, Hêrôđê lại xây nhiều lăng tẩm, lâu đài, dinh cơ. Masada là nơi nghỉ mát Hêrôđê xây để trốn lánh quân thù. Muốn xây như thế thì phải bắt dân nộp thuế. Dân Do-thái thời đó rất cơ cực vì một cổ hai tròng, như dân Việt vào thời bị Tàu và Pháp đô hộ; nghĩa là phải vừa đóng thuế cho mẫu quốc, vừa phải đóng thuế cho bọn quan lại, chuyên ăn trên ngồi trốc. Và dân Do-thái ghét cay ghét đắng bọn thu thuế. Bọn này đại diện cho tầng lớp bóc lột.
Chính vì thế mà dân Do-thái luôn nổi loạn; đúng như câu, ở đâu có áp bức, ở đấy có đối kháng. Dĩ nhiên, Hêrôđê đàn áp thẳng tay. Nhóm Quá Khích (Zealot, như nói ở trên) nổi dậy muốn lật đổ đế quốc Rôma cũng vì vậy. Nhưng ít ai để ý, trong số 12 tông đồ, Chúa chọn 2 ông thuộc hai tầng lớp đối nghịch trên: thu thuế và quá khích. Đó là 2 ông Matthêu và Simon, (xem Mt 10:1-4; Mc 3:13-19; Lc 6:15; Tđcv 1:13). Ông Simon thuộc nhóm Quá Khích chắc chắn thù hận ông Matthêu thuộc nhóm thu thuế, gọi là thù nhà, như dân Việt ghét bọn Việt gian. Thế mà hai ông xóa bỏ hận thù để trở thành tông đồ nhiệt thành của Chúa. Thế mới lạ!
Thắc mắc của tôi là, Chúa đã hóa giải một mối thù lớn giữa 2 ông đại diện cho 2 nhóm trong bối cảnh xã hội 2000 năm trước, thế sao giờ này Do-thái và Palestine vẫn cứ thù nghịch nhau? Thế cũng lạ!
Một tuần ở Giáo đô để thấy một thời huy hoàng của Giáo hội. Tôi chỉ tham dự một thánh lễ ngày Chủ nhật ở Padua, và nhà thờ chật ních giáo dân. Hôm đó là lễ Thánh Phêrô & Phaolô. Không biết vì lễ đặc biệt 2 vị thánh cả của Giáo hội mà tín hữu đông hay là Chủ nhật nào cũng đông như thế. Riêng ở Rôma, thánh lễ buổi sáng ngày thường ở nhà dòng Don Bosco cũng khá đông người. Có những công chức, công nhân, và các sơ... đủ mọi lứa tuổi. Chẳng bù lại có lần tôi đi công tác ở Đức, ngày Chủ nhật vào nhà thờ rộng mênh mông chỉ thấy mấy ông bà già và con nít. Thấy tôi lững thững bước vào, hầu như cả nhà thờ ai cũng nhìn tôi chăm chăm tỏ vẻ ngạc nhiên. Cuối lễ, tôi có hỏi người chịu trách nhiệm nhà thờ về thánh lễ mỗi sáng. Bà ta nhìn tôi trợn mắt bảo nhà thờ không mở cửa ngày thường, và chỉ mở một lần vào ngày Chủ nhật như thế này thôi. Thế là nhiều lắm rồi, bà nói thêm, vì chẳng mấy ai dự lễ. Báo chí cũng nói đến số giáo dân giảm hẳn ở các nước Âu-châu, nhưng thấy số giáo dân tham dự thánh lễ ở Giáo đô tôi thật sự kinh ngạc. Vì nếu các nước Âu-châu kia, duy trì được số giáo dân như ở Ý thì tốt quá. Hay là chỉ riêng nước Ý ở gần Giáo đô nên số giáo dân còn giữ đạo vẫn còn nhiều?
Thời vàng son của Giáo hội bắt nguồn từ Âu-châu để rồi sự tàn lụi cũng bắt nguồn từ đây. Tôi hy vọng Âu-châu sẽ không như thế. Thời đại tân tiến, con người có khuynh hướng rũ bỏ hết lề luật căn bản để tự do sống tha hóa. Hôm ở Pompeii, người hướng dẫn có nói vào thời đó dân chúng cổ võ nếp sống chỉ biết hiện tại, và khuyên đừng nghĩ đến thiên đàng, về đời sau. Khẩu hiệu của họ là sống ngay bây giờ, ngay trên cõi đời này, còn những gì sau khi chết là viễn vông. Đó là chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần. Cái nguy hại thời nay là ở chỗ đó. Con người gạt bỏ hết những luật căn bản của tôn giáo, đôi lúc liên quan đến luật tự nhiên để hoàn toàn sống buông thả. Một khi nhân loại xem nhẹ tất cả những giá trị tinh thần – ràng buộc bởi tôn giáo – chính là lúc con người sẽ sống trong bất an, lo sợ (cho dù những thỏa mãn vật chất cũng mang lại một đôi lúc hạnh phúc) và thế giới sẽ trở thành hỗn loạn.
Sau 2 tuần rong ruổi theo dấu chân Chúa và thăm Giáo Đô, chúng tôi chấm dứt cuộc hành hương. Nhìn chung, tại Đất Thánh chúng tôi theo dấu chân Chúa Giêsu qua khá nhiều địa danh. Cám ơn cha linh hướng và cô Helen đã lên một du trình chu đáo, muốn cho chúng tôi đến thật nhiều nơi, nên đôi lúc trong ngày cả đoàn đi gần như chạy. Lạ lùng thay, trong đoàn có bác đã 81 tuổi (ông Thành), và ít nhất là có 7-8 người trên 70 (các anh Trác, Đạm, Hiếu, Oánh, Nương, Tiệm, Bông), thế mà dưới cơn nắng gắt của vùng đất Do-thái vào cuối tháng 6, tất cả đều đi đến nơi về đến chốn. Có lúc phải leo lên con dốc (từ nhà thờ thánh Phanxicô sang nhà thờ thánh Clare) mệt đứ đừ, có khi phải đếm gần trăm bực thang (nhà thờ Đức Mẹ thăm viếng) bở hơi tai, thế mà các vị bô lão cứ bước chân rùa và cũng đến nơi như mọi người khác. Và rồi cả đoàn mỗi ngày đều đi với nhau, về với nhau, chẳng thiếu một ai.
Riêng một tuần tại Giáo Đô, phần lớn là thăm viếng các đền thờ, thánh đường, và nhà thờ để chiêm ngưỡng sự huy hoàng của Giáo hội. Cá nhân tôi vẫn thích 1 tuần tại Đất Thánh hơn, vì thấy lại chứng tích một thời nhân vật Giêsu, Con Thiên Chúa, đã sống tại vùng đất này, đã làm nhiều phép lạ, và rao truyền một tôn giáo mới: tôn giáo của Tình Yêu.
Hai tuần trôi qua mau chóng, mỗi người trở lại cuộc sống của riêng mình, và dư âm của cuộc hành hương sẽ trôi dần vào quên lãng. Bài viết này có tham vọng giữ lại một chút quyến luyến của cuộc hành hương, và mỗi khi muốn nhớ lại, xin mở đọc để thấy lại bầu trời Do-thái nắng gắt, tìm lại một chút gió mát của hồ Gailiê, nhớ đến một chút yên tịnh khi cầu nguyện... và cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho nhân loại, đặc biệt đoàn hành hương chúng ta.
Hạ Ngôn