Tang tóc đã qua. Màu tím ảm đạm không còn nữa. Bốn mươi ngày chay tịnh cũng chấm dứt. Bây giờ là lúc vui mừng, vì Chúa đã sống lại và hãy hát lên Alleluia


Allêluia nghĩa là “ngợi khen, ca tụng, vinh danh Thiên Chúa,” tiếng Do Thái. Trong suốt 40 ngày mùa Chay, trần thế và thiên đàng im bặt, hầu như không còn ai vinh danh Thiên Chúa nữa. Tuyệt nhiên không nghe Allêluia, cũng chẳng hát “Kinh Vinh Danh.” Các thiên thần trên chín tầng trời có lẽ cũng bặt tiếng ngợi khen Thiên Chúa. Trong thánh lễ chỉ còn câu “Lạy Chúa, vinh danh Chúa,” trước khi vị chủ tế đọc Phúc Âm. Suốt mùa Chay chỉ có một câu đó để vinh danh Chúa.


Nhưng khi Chúa sống lại, lập tức Allêluia vang khắp thế giới, cả trên trời cao. Ngợi khen Chúa. Ca tụng Chúa. Vinh danh Chúa. Như lời reo hò khi lòng vui tươi, hớn hở. Quả thế, nên reo to, nói lớn “Chúa Sống Lại Rồi,” với tất cả tấm lòng hân hoan, với con tim tràn đầy hạnh phúc. Thật đáng vui mừng vì đó là điểm cốt lõi của đạo Công giáo, vì sự sống lại của Đức Kitô đã đặt nền tảng cho đạo Công giáo.

 

Phúc Âm, còn gọi là Tin Mừng. Sở dĩ gọi là Tin Mừng, hoặc Tin Vui chính là nói đến sự Sống Lại của Đức Kitô. Một Tin rất Vui, rất Mừng, rất Hoan Hỉ. Sự kiện một người đàn ông tự xưng là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Chuộc sống lại từ cõi chết đã gây chấn động trong giới thượng tế, biệt phái, kỳ mục, kinh sư thời bấy giờ, kể cả các quan quân La Mã. Sự kiện Chúa Giêsu sống lại làm choáng ngợp tâm hồn các thánh Tông đồ, vượt quá tầm hiểu biết của con người. Sự Phục Sinh của Đức Kitô làm xáo trộn trật tự thế giới, thay đổi nếp sống của hàng tỷ người trên trái đất, nung nấu nhiệt huyết của con người với một niềm tin là sẽ được sống lại như Người (xem Ga. 11:25).


Khi thánh Phaolô đến Athens, Hy Lạp thảo luận với các triết gia thuộc phái Khoái lạc và phái Khắc kỷ, họ lại tưởng ngài nói về hai vị thần, Giêsu và Anastasis. Theo tiếng Hy Lạp, Anastasis nghĩa là Phục Sinh, (xem Cv. 17:18). Như thế, Chúa Giêsu và Phục Sinh là hai sự kiện lịch sử đan kết chặt chẽ với nhau, không thể nào tách rời trong lời giảng của thánh Phaolô. Xem thế để biết sự Phục Sinh của Đức Kitô quan trọng đến chừng nào.


Cũng theo thánh Phaolô, nếu Đức Kitô không sống lại, thì:
1. lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng,
2. đức tin của anh em cũng trống rỗng,
3. chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Ðức Kitô chỗi dậy, trong khi thực sự Người không cho Ðức Kitô chỗi dậy,
4. lòng tin của anh em thật hão huyền,
5. và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em,
6. những người đã an nghỉ trong Ðức Kitô cũng bị tiêu vong,
7. nếu chúng ta đặt hy vọng vào Ðức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. (1 Cr. 15:14-19)


Thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi cộng đoàn Cô-rin-tô nói rõ như thế. Sự Phục Sinh có tầm hệ trọng thiết yếu vì đó là sự kiện cuối cùng để hoàn thành công cuộc cứu chuộc của Đức Kitô. Chúa Giêsu đến để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và luôn cả hậu quả của nó, đó chính là sự chết (xem Rm. 6:23).


Sự Phục Sinh cũng phân biệt rõ ràng Chúa Giêsu với tất cả những người sáng lập tôn giáo khác. Xương cốt của Abraham, Muhammad, Đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử và Zoroaster1 đều vẫn còn ở đây trên trái đất. Ngôi mộ của Chúa Giêsu trống rỗng.


Sự Phục sinh để lại những hệ quả thực tiễn lớn lao vô cùng. Một hệ quả có thể hiểu được là so sánh cách hành xử của các môn đệ trước và sau cái chết của Đức Kitô. Trước đó, họ chạy trốn, chối bỏ Thầy mình, trốn chui trốn nhủi trong căn phòng khóa chặt cửa, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ và lòng bối rối không biết phải làm gì. Sau khi Chúa Giêsu sống lại, các thánh tông đồ hoàn toàn biến đổi, từ nhát đảm trở thành những vị thánh đầy tự tin, những nhà truyền giáo đầy can trường đi rao giảng, những vị tử đạo dũng cảm và họ rong ruổi khắp mọi nẻo đường – không hề mệt mỏi ¬– lòng ngập tràn niềm vui để nói về một Đức Kitô Phục Sinh.


Tầm quan trọng lớn nhất của Sự Phục Sinh không phải là trong quá khứ: “Đức Kitô đã sống lại,” mà là trong hiện tại: “Đức Kitô sống lại rồi!” Đó là ý nghĩa hiện sinh của Phục Sinh. Một Giêsu cũ đã sống lại hai nghìn năm trước, nhưng Giêsu hôm nay vẫn rất mới vì Người vừa sống lại. Nếu thế gian vẫn mặc lấy chiếc áo cũ của tội lỗi, thì một Đức Kitô sống động vẫn mới hơn bao giờ. Đó là lý do khi thiên sứ đứng tại ngôi mộ hỏi các phụ nữ, “Sao các bà tìm người sống giữa kẻ chết?” (Lc. 24:5). Ngày nay, câu hỏi tương tự có thể đặt ra cho mỗi người trong xã hội đầy dẫy những chủ nghĩa vô luân và học thuyết vô sinh, những lý tưởng trần tục, những giá trị bị tục hóa hoàn toàn. Tại sao đi tìm ý nghĩa của cuộc sống qua phá thai, ly dị, chuyển giới, hôn nhân đồng tính (không sản sinh sự sống)… tất cả đều thuộc về văn hóa sự chết (death culture)?


Hai nghìn năm trước, lúc Chúa bị treo trên thập giá, bóng tối bao phủ cả mặt đất, (Mt. 27:45), và khi Chúa trút linh hồn, Phúc Âm ghi lại những hiện tượng bất thường như bức màn trướng trong đền thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, (Mc. 15-38 và Mt. 27:51); mặt đất rung chuyển, đá vỡ và mồ mả bật tung, (Mt. 27:52), mấy ai tin Người là Con Thiên Chúa. Vì thế, khi Chúa Giêsu sống lại, không mấy người tin thì cũng là điều dễ hiểu.


Nếu có người thắc mắc nghi ngờ về sự phục sinh của Chúa Giêsu có lẽ chúng ta cũng không ngạc nhiên lắm. Vì ngay cả các tông đồ, nhóm Mười Một (Giuđa đã tự ải), những người đi theo Thầy Giêsu suốt 3 năm dài, thế mà khi nghe các bà – bà Maria Magalêna, bà Gioanna, bà Maria mẹ của ông Giacôbê, và nhiều phụ nữ khác – nói Chúa sống lại rồi, các ông cho là chuyện lẩn thẩn (xem Lc. 24:11). Tiếng Việt dịch ra là chuyện lẩn thẩn cho lịch sự nhưng thật ta thánh Luca dùng chữ Hy Lạp leros, và chữ này phải dịch là mê sảng mới đúng nghĩa. Thêm chi tiết này cũng thật khó hiểu: trong suốt 3 năm các ông đã nghe Chúa Giêsu báo trước nhiều lần – gián tiếp qua ẩn dụ, hoặc trực tiếp với nghĩa đen – về chuyện Người phải chịu nhục hình, bị giết chết và sẽ sống lại (xem Mt. 12:40, 16:21, 22-23; Mc. 9:9, 10:32-34; Lc. 9:30-31; Ga. 2:19-22, 10:14-18, 16:16-22), thế mà các tông đồ vẫn không tin.


Các tông đồ cho là chuyện tầm phào, mê sảng chỉ vì sự Phục Sinh vượt quá trí hiểu biết của các ông. Hai nghìn năm nay, thời nào cũng có người thách đố, phản biện, phản bác sự sống lại của Chúa Giêsu. Họ thắc mắc không biết Chúa Giêsu có thật sự sống lại hay không? Các học giả thế tục cho rằng sự kiện Chúa sống lại do các thánh sử thêm thắt, thêu dệt và ghi lại trong Phúc Âm. Họ hoài nghi và thường đặt câu hỏi: dựa vào đâu để cho rằng Chúa Giêsu sống lại? Một ngôi mộ trống không đủ thuyết phục.


Câu hỏi then chốt này rất đáng được trả lời, qua SUY LUẬN và qua ĐỨC TIN.

I. SUY LUẬN VỀ SỰ PHỤC SINH


Không gì hay cho bằng mượn cách suy luận của Gs. Kreeft. Biện luận của ông trong cuốn Handbook of Christian Apologetics (Cẩm nang Tín chứng Thiên Chúa giáo) đánh tan mọi nghi ngờ về sự phục sinh của Chúa Giêsu.


Chúng ta tin rằng sự phục sinh của Đức Kitô có thể chứng minh, ít nhất là đủ thuyết phục như bất cứ sự kiện nào được ghi chép đầy đủ trong lịch sử cổ đại. Để chứng minh điều này, chúng ta không cần giả định trước bất cứ điều gì có thể gây tranh cãi; chẳng hạn như phép lạ xảy ra.


Nhưng kẻ hoài nghi cũng không được giả định trước bất cứ điều gì. Chúng ta không cần phải giả định trước rằng Tân Ước là không thể sai lầm, hoặc được Chúa Thánh Thần linh hứng, hoặc thậm chí là đúng. Chúng ta không cần phải giả định trước rằng thực sự có một ngôi mộ trống, hoặc những lần Chúa hiện ra sau khi sống lại, như đã được ghi lại trong Kinh thánh. Chúng ta chỉ cần giả định trước hai điều, cả hai đều là dữ liệu cụ thể, dữ liệu thực nghiệm, mà không ai phủ nhận được: các bản văn Tân Ước được lưu giữ đến nay, và lịch sử hai nghìn năm của đạo Công giáo.
Câu hỏi đặt ra là: giả thuyết nào về những gì thực sự xảy ra ở Giêrusalem vào Chủ nhật Phục Sinh đầu tiên phù hợp với 2 dữ liệu nêu trên?


Có 5 giả thuyết tất cả:
1. Thiên Chúa giáo
2. Ảo giác
3. Hoang đường
4. Thuyết âm mưu
5. Đức Kitô chỉ chết ngất chứ không chết (không tắt thở)



A. Giả thuyết chết ngất.

Giả thuyết cho rằng Chúa Giêsu chỉ ngất xỉu khi quân dữ tháo xác Người xuống khỏi cây thánh giá. Khi ở trong mồ, Chúa Giêsu tỉnh dậy và trốn thoát. Khi thấy mồ trống, các tông đồ cho rằng Chúa Giêsu đã sống lại.


Có 9 lý lẽ bẽ gãy giả thuyết này:


1. Chúa Giêsu không thể nào thoát chết với khổ hình đóng đinh trên thập giá. Người Ba Tư phát minh hình phạt đóng đinh vào khoảng năm 300-400 trước Công nguyên. Đế quốc La Mã bắt chước hình phạt này nhưng tinh xảo hóa khổ hình. Lính La Mã thuộc nằm lòng từng bước của diễn tiến hành hình, và rất lão luyện trong việc thi hành bản án. Luật La Mã nói rõ người lính sẽ bị tử hình nếu để phạm nhân trốn thoát, hoặc thi hành không đúng theo từng bước.


2. Sự kiện tên lính La Mã không đánh gãy ống chân Đức Giêsu, như hắn đánh gãy ống chân của hai tử tội (xem Ga. 19:31-33), điều này chứng tỏ tên lính biết Đức Giêsu đã chết. Sở dĩ phải đánh gãy ống chân để tử tội chết mau hơn (nghẹt thở vì hai chân không giữ được thân hình), hầu đưa xác xuống khỏi thập giá trước ngày sa-bát (xem Ga. 19:31).


3. Gioan, vị tông đồ, là nhân chứng. Ngài chứng nhận rằng ngài thấy máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Giêsu (xem Ga. 19:34-35). Như thế, phổi của Đức Giêsu bị bóp xẹp và Người chết vì ngạt thở. Y khoa từ lâu đã minh chứng được điều này.


4. Thi hài của Đức Giêsu được cuộn trong vải liệm và đem chôn (xem Ga. 19:38-42).


5. Sự xuất hiện sau Chúa sống lại rõ ràng thuyết phục các môn đệ – ngay cả thánh Tôma nghi ngờ – về Đức Kitô đã thật sự phục sinh và đang sống vinh hiển (xem Ga. 20:19-29). Về mặt tâm lý, các môn đệ không thể được biến đổi và tự tin một cách cả thể nếu Chúa Giêsu vừa thoát khỏi cơn ngất, và rất cần tịnh dưỡng. Nửa sống nửa chết, người đàn ông ốm yếu vật vờ thoát chết trong gang tấc không thể nào nói chuyện chững chạc và mạch lạc đến thế. Trái lại, Chúa Giêsu đúng là Thiên Chúa đáng được tôn vinh vì đã chiến thắng cái chết.


6. Làm thế nào những lính canh La Mã đang canh giữ ngôi mộ bị một người chết ngất khống chế? Các tông đồ tay không lại có thể đối đầu với các lính canh lực lưỡng? Và nếu đúng là các tông đồ quật ngã bọn lính đem giấu xác Chúa, thì họ đã cố ý nói dối khi viết các sách Phúc âm, và đó là thuyết âm mưu và chúng ta sẽ biện luận tiếp theo.


7. Làm thế nào một người đàn ông nửa sống nửa chết lại có thể di chuyển tảng đá lớn chắn cửa ngôi mộ? Ai di chuyển hòn đá nếu không phải là thiên thần? Chưa một ai trả lời được câu hỏi đó. Cả người Do Thái và quân La Mã chắc chắn không vần cửa mộ, chỉ vì lợi ích của cả hai là phải niêm phong giữ chặt ngôi mộ; người Do Thái đã đặt hòn đá lấp cửa mộ ở đó ngay từ đầu, và lính canh La Mã sẽ bị giết nếu họ để “mất” xác Giêsu thành Nazarét. Thêm nữa, các thượng tế rêu rao vì lính canh ngủ say nên các môn đệ lấy mất xác (xem Mt. 28:11-25). Thật khó tin, vì nhiệm vụ canh giữ mà lại ngủ quên thì không phải là lính canh và hình phạt để mất xác có thể là mất mạng theo luật La Mã. Giả sử đúng là ngủ quên, thì khi các tông đồ vần tảng đá che cửa mộ lại không đủ gây tiếng động đánh thức đám lính canh dậy hay sao?


8. Nếu Chúa Giêsu tỉnh dậy sau một cơn ngất, thì Ngài đi đâu? Nên suy nghĩ kỹ điều này: bây giờ là một cơ thể sống, phải ăn phải uống chứ không phải xác chết nằm một chỗ. Vậy thì tại sao cả thân xác lại biến mất? Một người đàn ông như thế, với một quá khứ như vậy, không thể nào biến mất mà không để lại dấu vết.


9. Đơn giản nhất, thuyết ngất xỉu nhất thiết phải biến thành thuyết âm mưu hoặc thuyết ảo giác, vì các môn đệ làm chứng rằng Chúa Giêsu không ngất xỉu mà thực sự chết và thực sự sống lại.


B. Giả thuyết về thuyết âm mưu.

Tại sao các môn đệ không thể bịa ra toàn bộ câu chuyện? Có 6 lập luận để bác bỏ giả thuyết này.


1. Pascal đưa ra một bằng chứng đơn giản, hợp lý về mặt tâm lý để biện luận lý do tại sao điều này là không tưởng:


Giả thuyết cho rằng các Tông đồ là những kẻ lừa dối thật hoàn toàn vô lý. Cứ tưởng tượng như thế này, mười hai người này tụ họp sau khi Chúa Giêsu chết và cùng nhau âm mưu nói rằng Người đã sống lại từ cõi chết. Điểm tâm lý cần chú ý là tâm hồn người ta dễ bị giao động vì tình trạng bất định, dễ bị tác động vì tính dễ thay đổi, dễ xiêu lòng vì lời hứa hẹn, dễ yếu lòng khi bị mua chuộc. Chỉ cần một trong 12 người nói khác đi – vì bất định, thay đổi, hứa hẹn, mua chuộc – hoặc phủ nhận thì toàn bộ âm mưu bị lộ tẩy ngay, chưa kể khi bị cầm tù, tra tấn, và cận kề với cái chết thì càng khó giữ được âm mưu. Cứ suy luận như thế lần nữa đi sẽ thấy sự vô lý. (Pensée 322, 310)


2. Nếu các Tông đồ bịa ra chuyện Chúa Giêsu sống lại, họ là những nhà tưởng tượng sáng tạo, tài giỏi, thông minh nhất trong lịch sử, vượt xa Shakespeare hay Dante hay Tolkien. Những kẻ chài lưới có thể bịa chuyện, nhưng không thể nào bịa ra được một chuyện phức tạp, thuyết phục, mang tính đổi đời và có ảnh hưởng lâu dài đến vậy.


3. Cá tính của các môn đệ là lập luận vững chắc chống lại giả thuyết âm mưu, vì với một cá tính như thế mà không có một người nào lên tiếng phản đối. Họ là những người quê mùa giản dị, trung thực, bình thường, không phải những kẻ dối trá xảo quyệt, lừa bịp. Họ thậm chí chẳng phải là luật sư! Qua lời nói và hành động, ai cũng nhận thấy sự chân thành của họ. Họ rao giảng về một Chúa Kitô Phục Sinh và họ sống như một Chúa Kitô Phục Sinh. Họ sẵn sàng chết vì “âm mưu” của mình. Không có gì chân thành hơn là chết vì đạo.


4. Động lực nào thúc đẩy các tông đồ nói dối? Lý do thông thường nhất của dối trá là vì lời nói dối mang lại một lợi ích cá nhân nào đó. “Những kẻ chủ mưu” thu được lợi gì từ “lời nói dối”? Họ bị thù ghét, khinh miệt, bắt bớ, loại ra khỏi xã hội, bỏ tù, tra tấn, đày ải, đóng đinh, luộc sống, nướng, chặt đầu, mổ bụng và quăng xác cho sư tử ăn – toàn là những đau đớn cùng cực về thể xác, và hầu như chẳng mang lại một lợi lộc nào.


5. Để chứng minh phục sinh là điều dối trá, các thượng tế và người Do Thái chỉ cần đưa xác chết ra trước công chúng và chắc chắn lời đồn thổi vể người đàn ông sống lại sẽ bị bóp chết ngay từ trong trứng nước, chứ đâu để âm mưu này kéo dài cả hai nghìn năm. Rất dễ, họ chỉ cần đến ngôi mộ và đưa xác chết ra ngoài cho mọi người thấy. Quân lính và các quan chức La Mã lúc đó cùng một phe với họ. Và nếu người Do Thái không trưng bày được xác chết và đổ lỗi cho các môn đệ đánh cắp, thì bằng cách nào họ đánh cắp đây? Các lập luận chống lại giả thuyết chết ngất, một lần nữa, được lập lại ở đây: các ngư dân không một tấc sắt trong tay lại có thể khống chế được quân lính La Mã lực lưỡng? hoặc họ có thể vần tảng đá nặng nề che cửa mộ mà không gây một tiếng động nào để đánh thức đám lính ngủ say?


6. Các môn đệ không thể nào mạnh mẽ công bố sự sống lại tại Giêrusalem. Nếu đó là một âm mưu dối trá thì các tông đồ nên công bố ở một nơi nào khác chứ không thể ngay tại Giêrusalem vì hiện tượng Chúa sống lại xảy ra cùng một thời gian, cùng một nơi chốn, và đầy dẫy những người chứng kiến. Công bố tại Giêrusalem là điều dại dột vì các thượng tế, kinh sư, kỳ lão, và người Do Thái sẽ lật tẩy âm mưu dễ dàng. “Nếu là âm mưu, thì chắc chắn kẻ thù của các môn đệ không chịu ngồi yên. Họ sẵn sàng vạch trần âm mưu vì quyền hành tối thượng họ nắm trong tay. Tin Chúa Giêsu sống lại và đi lại giữa công chúng đang phá hủy toàn bộ nền kinh tế được xây dựng trên niềm tin tôn giáo cổ xưa, đồng thời quyền lực và lợi ích của họ đang bị lung lay, suy giảm. Bằng mọi giá, người Do Thái phải lật tẩy âm mưu dối trá của các tông đồ.” (William Craig, Knowing the Truth About the Resurrection, ch. 6).


C. Giả thuyết ảo giác.

Nếu thấy một người chết đi đứng tự nhiên và nói chuyện bình thường, quý vị có nghĩ rằng quý vị đang bị ảo giác hay là quý vị tin những gì đang thấy là sự thật? Nếu quý vị tin vào những gì mắt thấy tai nghe thì tại sao lại không tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu? Có 13 biện luận để đánh tan giả thuyết ảo giác này.


1. Có quá nhiều nhân chứng. Ảo giác thường riêng tư, cá nhân, và chủ quan. Chúa Giêsu hiện ra với Maria Mađalêna, một lần với các tông đồ trừ Tôma, rồi lần khác với các môn đệ và cả Tôma, với hai môn đệ trên đường đến Emmau, với các ngư phủ trên bờ biển Galilê, với Giacôbê và thậm chí với hơn năm trăm người cùng một lúc (xem 1 Cr. 15:3-8). Theo tâm lý, chỉ cần ba nhân chứng khác nhau cũng đủ chứng thực một sự kiện; hơn năm trăm người nghĩa là quá đủ. Thánh Phaolô còn nói thêm (câu 6) hầu hết trong số năm trăm người này vẫn còn sống, quý ông bà và anh chị em cứ hỏi thẳng họ sẽ rõ chuyện. Thánh Phaolô không thể nào thoát khỏi tay các thủ lãnh Do Thái, những kẻ nắm trong tay mọi quyền hành, mọi sức mạnh, hầu hết dân chúng, ngay cả uy thế của đế quốc La Mã, nếu Ngài làm chứng dối.
2. Các nhân chứng đủ tiêu chuẩn. Họ là những người đơn giản, trung thực, đạo đức, những người trực tiếp mắt thấy tai nghe sự sống lại.
3. Các nhân chứng nhìn thấy Đức Kitô cùng nhau, vào cùng lúc và cùng một địa điểm.
4. Ảo giác thường kéo dài vài giây hoặc vài phút; hiếm khi hàng giờ. Sự kiện phục sinh kéo dài trong bốn mươi ngày (xem Cv. 1:3).
5. Ảo giác thường chỉ xảy ra một lần, trừ kẻ mất trí thường có ảo giác thường xuyên. Đức Kitô hiện ra nhiều lần, với những người tâm trí bình thường (xem Ga. 20:19, 21:14; Cv. 1:3).
6. Ảo giác đến từ bên trong, từ những gì chúng ta đã biết, ít nhất là trong vô thức. Đức Kitô nói và làm những điều ngạc nhiên và bất ngờ (xem Cv. 1:4, 9) – như một người thật chứ không giống như một giấc mơ.
7. Các môn đồ không những không dám nghĩ Chúa sống lại, mà ngay từ đầu họ còn không tin – Phêrô, các phụ nữ, Tôma và mười một tông đồ cũng không tin. Họ tưởng là thấy ma; Đức Kitô phải ăn một cái gì đó để chứng minh Người sống lại thật (xem Lc. 24:36-43).
8. Ảo giác không thể ăn uống bình thường. Đức Kitô Phục Sinh đã làm như vậy ít nhất hai lần (xem Lc. 24:42-43; Ga. 21:1-14).
9. Các môn đệ đã rờ đến Người (xem Mt. 28:9; Lc. 24:39; Ga. 20:27).
10. Họ nói chuyện với Đức Kitô, và Người nói lại. Trí tưởng tượng không thể hình dung được những cuộc trò chuyện kéo dài đầy ý nghĩa sâu sắc, trừ khi người đó mắc chứng rối loạn tâm thần. Nhưng “ảo giác” này đã chuyện vãn với ít nhất mười một người cùng một lúc và trong bốn mươi ngày (xem Cv. 1:3).
11. Các môn đệ không thể tin vào “ảo giác” nếu xác Chúa Giêsu vẫn còn trong mồ. Điều này rất đơn giản và dễ hiểu; vì nếu đó là ảo giác thì cái xác ở đâu? Các tông đồ sẽ đi kiểm tra; nếu xác còn đó, chắc chắn họ không hề tin chuyện sống lại.
12. Nếu các tông đồ bị ảo giác và sau đó chính họ rêu rao chuyện ảo tưởng, thì người Do Thái đã ngăn chặn dễ dàng bằng cách trưng ra xác chết – trừ khi các môn đồ đã đánh cắp xác, nhưng chúng ta phải quay lại với thuyết âm mưu và nhận thấy tất cả những khó khăn của nó.
13. Ảo giác chỉ giải thích được những lần xuất hiện sau khi sống lại; nhưng không giải thích được ngôi mộ trống, làm sao vần được tảng đá lấp cửa mộ hoặc người Do Thái không thể trưng bày được xác chết. Không giả thuyết nào có thể giải thích hợp lý tất cả những sự kiện này ngoại trừ đó là một sự phục sinh thực sự.


D. Giả thuyết chuyện thần thoại. Làm sao chúng ta biết chắc sự phục sinh không chỉ là chuyện thần thoại hoang đường. Có 5 biện minh.


1. Văn phong của các sách Phúc âm hoàn toàn khác biệt rõ ràng với văn phong của tất cả các thần thoại. Không có những sự kiện phóng đại quá mức, hoặc quá thu hút, hay quá ấu trĩ. Các mẩu chuyện trong Kinh Thánh đều mang một ý nghĩa đặc thù.
Chiều sâu tâm lý ở mức tối đa. Trong thần thoại, nó ở mức tối thiểu. Với thần thoại, những sự kiện huy hoàng bên ngoài sẽ làm phai lạt chiều sâu nội tâm của nhân vật. Trái lại, chiều sâu và sự phát triển tính cách của các nhân vật trong sách Phúc âm – đặc biệt Chúa Giêsu – tác động mạnh mẽ vào tâm trí người đọc.
Từ ngữ cũng rất quan trọng. Thần thoại dài dòng; Phúc âm ngắn gọn.
Ngoài ra còn có những dấu hiệu mô tả của nhân chứng, như chi tiết nhỏ Chúa Giêsu viết trên đất khi được hỏi có nên ném đá người phụ nữ ngoại tình hay không (xem Ga. 8:6). Không ai biết tại sao chi tiết này được ghi lại trong Phúc âm; và chẳng có lời giải thích Người viết gì trên đất. Lời giải thích duy nhất vì tác giả là nhân chứng, nhìn thấy sự kiện và ghi lại trung thực điều mắt thấy tai nghe. Nếu chi tiết này và các chi tiết khác tương tự trong cả bốn sách Phúc âm đều được bịa ra như chuyện thần thoại, thì ở thế kỷ thứ nhất một người thu thuế (Matthêu), một “thanh niên” (Máccô), một bác sĩ (Luca) và một ngư dân (Gioan) tự mình khai sáng một lối văn độc đáo, thể loại giả tưởng hiện thực chỉ xuất hiện trên văn đàn vào thế kỷ 20, cách nhau mười chín thế kỷ.


2. Thời cổ đại, thần thoại cần thời gian để thai nghén và phát triển, thường là vài ba thế kỷ. Lịch sử cho thấy phải mất rất nhiều thế hệ sau cái chết của Đức Phật, Lão Tử, tiên tri Muhammad rồi thần thoại và huyền thoại về phép lạ xảy ra chung quanh những vị này mới nổi lên và lan truyền trong dân gian.
Chúa Giêsu chết và sống lại vào khoảng năm 30 CN. Bốn cuốn Phúc Âm của bốn thánh sử, đều thuật lại sự phục sinh của Đức Kitô, được viết trước và sau năm 70 CN. Sở dĩ lấy năm 70 CN làm mốc vì đó là năm đền thờ Giêrusalem bị đế quốc La Mã phá hủy (không còn hòn đá nào trên hòn đá nào như lời Chúa Giêsu nói, xem Lc. 21:6), bắt đầu thời kỳ lưu lạc của dân Do Thái kéo dài hơn hai nghìn năm. Phúc Âm thánh Máccô được viết sớm nhất, khoảng năm 55 CN; Phúc Âm thánh Mátthêu và Máccô được viết vào khoảng năm 60 – 70 CN; và sau cùng, Phúc Âm thánh Gioan được viết trễ nhất, khoảng năm 90 – 100 CN. Một số học giả thế tục cho rằng thời gian mấy chục năm sau cái chết của Chúa Giêsu đủ để các tác giả thêm thắt những chi tiết thần thoại (họ cố ý nói đến sự phục sinh) vào sách Phúc Âm. Họ quên đi rằng thần thoại cần ít nhất vài thế kỷ để chín muồi chứ không thể vài thế hệ như lịch sử từng chứng minh.
Nhưng tạm gác sự nghi ngờ này lại, và tìm hiểu các thư thánh Phaolô gửi cho các công đoàn Thêxalônica, Côrintô, Philipphê, Galát, Rôma, Côlôxê, Êphêxô...v..v. Những lá thư này được thánh Phaolô viết từ năm 50 CN cho đến khi Ngài tử đạo (66 CN). Thánh Phaolô luôn nhắc đến cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, hai sự kiện không bao giờ thiếu trong lời rao giảng cũng như trong thư từ của Ngài. Tính từ thời điểm Chúa sống lại đến lúc lá thư đầu tiên Ngài gửi ra cho cộng đoàn Thêxalônica năm 50 CN thời gian chỉ vỏn vẹn 20 năm, chưa tròn một thế hệ. Nếu 2 sự kiện cách nhau chỉ 20 năm, thánh Phaolô không thể rao giảng một điều dối trá vì những người cùng thời với Chúa Giêsu vẫn còn sống. Như thế, chỉ có một kết luận duy nhất: thánh Phaolô rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh là một sự thật. Nếu các thư từ này không là thần thoại thì các chi tiết Chúa sống lại trong các sách Phúc Âm cũng không là thần thoại.


3. Thuyết thần thoại đặt ra hai tầng. Tầng đầu tiên nhìn nhận Chúa Giêsu có sinh ra trên cõi đời này, không phải là thần thánh, chưa từng tuyên bố là thần thánh, không làm một phép lạ nào và cũng không sống lại từ cõi chết. Tầng thần thoại thứ hai, muộn hơn, là các sách Phúc âm như chúng ta đang cầm nơi tay, viết ngược lại với các tính chất của tầng đầu tiên, như Chúa Giêsu, tự xưng là thần thánh, thực hiện các phép lạ và sống lại từ cõi chết. Thuyết này dễ dàng bị đánh đổ vì không đưa ra bất cứ một bằng chứng xác thực nào về sự tồn tại của tầng đầu tiên.


4. Một chi tiết nhỏ, chẳng mấy ai chú ý, nhưng rất quan trọng để phân biệt Tin Mừng với thần thoại: những nhân chứng đầu tiên của sự phục sinh là phụ nữ. Trong đạo Do Thái vào thế kỷ thứ nhất, phụ nữ có địa vị xã hội thấp và không có quyền đứng ra trước tòa làm nhân chứng. Nếu ngôi mộ trống là chuyện thần thoại bịa đặt, thì những người bịa chuyện đủ khôn ngoan không để các phụ nữ làm nhân chứng, vì lẽ đơn giản là lời khai của đám phụ nữ này chắc chắn vô giá trị, chẳng ai tin. Như thế, nếu các tông đồ chỉ đơn giản viết lại những gì họ mắt thấy tai nghe, thì họ phải viết trung thực, cho dù gây bất lợi về mặt xã hội và pháp lý.


5. Tân Ước không thể là thần thoại bị giải thích sai lạc và lẫn lộn với sự thật bởi vì Tân Ước phân biệt rõ ràng hai điều này và bác bỏ cách giải thích thần thoại hoang đường (2 Pt. 1:16). Chính vì lẽ Tân Ước không phải là thần thoại, nên nếu là thần thoại, thì đó là một lời nói dối có chủ đích. Suy luận như thế dẫn đến một câu hỏi hóc búa: đó là sự thật hay dối trá? có chủ ý (âm mưu) hay không có chủ ý (ảo giác)? Không có câu trả lời trọn vẹn cho câu hỏi này. Khi một đứa trẻ hỏi liệu ông già Noel có thật không, nếu câu trả lời “có” thì đó là một lời nói dối, không phải chuyện thần thoại, vì lẽ ông già Noel không có thật theo đúng nghĩa đen. Một khi Tân Ước phân biệt rõ rệt thần thoại với thực tế, nó sẽ trở thành dối trá nếu sự phục sinh không phải là sự thật.
Nếu 4 giả thuyết – chết ngất, âm mưu, ảo giác, thần thoại – do những kẻ hoài nghi đặt ra bị bác bỏ qua suy luận thì chỉ còn lại một khả năng duy nhất. Đó là Đức Kitô chết nhục nhã trên cây thánh giá và sau ba ngày sống lại vinh hiển. Chính sự phục sinh của Chúa Giêsu đặt nền tảng cho đạo Công giáo, tôn giáo duy nhất dẫn con người đến sự sống đời đời.
Tất cả là nhờ Đức Kitô chiến thắng sự chết.

II. NIỀM TIN VÀO SỰ PHỤC SINH


Đức tin dạy cho chúng ta tin vào những gì không thấy, hoặc không thể hiểu bằng trí óc con người. Cho dù đức tin chín chắn, nhưng đôi lúc chúng ta vẫn nghi ngờ. Với tấm lòng trung thực tìm kiếm sự thật, hoài nghi chính là một phương cách thử thách để củng cố niềm tin. Mẹ Têrêsa Calcutta thú nhận có một thời gian khá dài, Mẹ hoài nghi về niềm tin. Mẹ có cảm tưởng Chúa bỏ rơi Mẹ. Các thánh tông đồ không tin Chúa sống lại khi nghe các bà từ mộ chạy về báo tin. Cùng một ngày, khi các ông lo sợ trốn trong phòng thì Chúa hiện đến. Chúa Giêsu để cho các ông sờ đến, đụng đến tay chân của Người, lòng các ông rộn rã niềm vui nhưng vẫn hoang mang, chưa tin hẳn (xem Lc. 24:41). Chuyện Tôma thì ai cũng rõ, ông vắng mặt hôm Chúa hiện ra, nên ông lại càng không tin.


Thế mà khi các ông tin Chúa thật sự sống lại, con người các ông thay đổi hoàn toàn với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Từ nhát đảm trở nên can trường. Từ nhút nhát trở nên can đảm. Và các tông đồ hăng hái lên đường – với tâm hồn hừng hực lửa Chúa Thánh Thần – đi khắp thiên hạ để rao giảng cho muôn dân Tin Mừng duy nhất: Đức Kitô chết và sống lại.


Hơn thế, từ sợ chết các tông đồ trở nên gan dạ và sẵn sàng chết vì niềm tin. Trong 12 tông đồ, chỉ có mỗi thánh sử Gioan là chết già, còn lại 11 vị kia đều bị những bạo chúa như Nêrô, hoặc những kẻ tàn ác độc tài như Hê-rô-đê A-grip-pa giết chết một cách thảm khốc. Các tông đồ xem thường cái chết. Họ hiên ngang nhận lãnh cái chết để bảo vệ đức tin, để làm chứng những gì các ngài rao giảng. Điều làm con người sợ hãi nhất chính là cái chết. Đó là nỗi sợ hãi tối hậu của con người. Vì thế, các thể chế độc tài trong lịch sử nhân loại đều dùng cái chết để khống chế người dân. Chính vì sợ cái chết nên con người phải cúi đầu khuất phục. Và đây, sự phục sinh của Chúa Giêsu đã đánh bại những bạo chúa, những kẻ độc tài, những kẻ áp bức, vì vũ khí hữu hiệu dùng để thống trị con người – cái chết – không còn hiệu dụng nữa. Không một ai sợ hãi cái chết nữa.


Như các tông đồ vượt qua được ngưỡng cửa của sợ hãi. Các ngài hân hoan đi qua cánh cửa tử thần để đón nhận cái chết. Như thánh Phaolô thú nhận, ngài chỉ muốn tử đạo để về với Chúa: …vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Ðức Kitô, điều này tốt hơn bội phần, (Pl. 1:23). Qua hai nghìn năm, hàng triệu triệu tín hữu sẵn sàng chết vì một Đức Kitô Phục Sinh – bị thiêu sống, lột da, chặt đầu, ném đá, đóng đinh…v..v. – kiên quyết giữ vững đức tin, trong đó có 117 vị thánh tử đạo Việt Nam.


Ước lượng có khoảng ba trăm nghìn người gồm giám mục, linh mục, tu sĩ, và giáo dân chết vì đạo qua các triều đại vua chúa nhà Nguyễn. Có giáo dân bị thiêu sống, có kẻ bị chết rũ tù. Cái chết nhanh nhất là xử trảm. Chết lâu nhất, đau đớn nhất, và nhục nhã nhất là lăng trì và tùng xẻo. Giáo dân bị trói vào cột, sau đó đao phủ chặt hết tay chân rồi dùng dao bén xẻo từng miếng thịt cho đến chết. Sự đau đớn kéo dài hàng giờ, có khi cả ngày. Cảnh chết quá khủng khiếp và rùng rợn, thế mà các ngài vẫn hiên ngang bước ra pháp trường để chịu khổ hình, dứt khoát không chịu bước qua thánh giá.


Cứ nhìn vào những cái chết dũng cảm của các thánh tử đạo để chúng ta tin chắc Chúa sống lại thật, vì Người chiến thắng sự chết và cấy đức tin vào lòng chúng ta. Thật không ai dại dột chấp nhận một cái chết khủng khiếp đến thế để bảo vệ một sự dối trá. Chỉ vì tin tưởng vào sự sống lại nên các ngài không hề sợ chết nữa, vì “…một khi Ðức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn làm chủ được Người nữa”, (Rm. 6:9). Và đã có hàng triệu triệu người không sợ chết như thế, và mãi đến tận hôm nay, ngay chính bây giờ, lúc khi quý vị đọc hàng chữ này, vẫn có những Kitô hữu ngã xuống để bảo vệ đức tin. Chính cái chết hiên ngang của vô vàn các thánh tử đạo giúp chúng ta đặt hết niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh. Như lời của Đức cố Giám mục Pierre DuMaine, vị giám mục tiên khởi của Giáo phận San José, trả lời câu hỏi hoài nghi về sự kiện Chúa Phục Sinh của một phóng viên: hàng triệu triệu người sẵn sàng tử đạo vì tin vào sự phục sinh của Đức Kitô khiến chúng ta tin chắc chắn rằng Chúa đã sống lại thật.


Máu của các thánh tử đạo tiếp tục đổ ra từ hai nghìn năm qua giúp Giáo hội lớn lên, như lời của Đức Giáo hoàng Phanxicô nói với khách hành hương năm 2014. Học giả Tertullian (? – 220 CN) nhận xét: Máu các vị Tử Đạo là hạt giống trổ sinh nhiều tín hữu. Chính máu của các ngài giúp chúng ta củng cố đức tin, kiên quyết giữ vững đức tin, và chia sẻ đức tin đó cho những người chung quanh. Khi tin chắc chắn Chúa Giêsu sống lại, niềm xác tín đó khiến chúng ta mạnh mẽ hơn, nhiều nghị lực hơn để chống lại sự dữ; tâm hồn luôn hứng khởi, lòng luôn hân hoan niềm vui Phục Sinh, vì biết rằng Chúa Giêsu luôn ở cùng chúng ta.


Để kết thúc, xin mượn lời của Đức cố Giáo hoàng Bênêđictô XVI, “Niềm tin vào sự Phục sinh của Chúa Giêsu khẳng định có một tương lai cho mỗi người; vì nỗi khao khát về cuộc sống đời đời thực sự được thỏa mãn.”

  Hạ Ngôn

1Tôn giáo xưa 4000 năm, vùng Ba-tư thuộc Iran ngày nay.

 

PS. Nếu rảnh rỗi, xin theo link để xem phim “Risen”. Quan quân La Mã điều tra sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu. https://myflixertv.to/movie/risen-11413

 

Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.