- Đăng ngày 20 Tháng 2 2011
- Lượt xem: 2523
Ông xếp biết trong năm tôi đã bay nhiều lần. Ông cũng biết Tết Âm lịch sắp đến và đối với phong tục người Việt, đó là những ngày linh thiêng nhất trong năm. Oái oăm thay, tôi phải rời nhà đi công tác trong những ngày gần cuối năm. Tôi không có sự chọn lựa nào. Thứ thợ không ra thợ, thầy không ra thầy, một loại thiên lôi như tôi thì hãng bảo đi đành phải đi. Bù lại, ông hứa sẽ cho nghỉ mấy ngày phép sau khi trở lại Mỹ.
Gần đây, bạn bè cũ Lasan của tôi tình cờ gặp gỡ nhau trên mạng và từ đó quyết định thành lập một mạng lưới để liên lạc với nhau. Gần Tết, tình cờ chúng tôi nhắc nhớ đến tên một vài người bạn bây giờ còn miệt mài trên cánh đồng cằn cỗi. Dĩ nhiên cuộc sống vốn đã cơ cực, giờ cũng chẳng khá hơn. Và chúng tôi quyết định giúp đỡ hai người bạn, một đứa đang ở Long khánh, và một đứa bị cụt cả hai chân đang sống ở Qui nhơn.
Cần nói thêm là mấy đứa em tôi còn kẹt lại ở Việt nam, năm nào cũng nhắc đến tôi, thằng anh cả, sống xa quê từ thuở chúng còn nhỏ nên về thăm chúng một lần sau từng ấy năm. Bây giờ chúng đã chồng con, vẫn dãi dầu sương gió ở vùng đất đỏ Long khánh. Có những trăn trở nặng nhọc riêng tư khiến tôi chưa một lần trở về vùng đất đó, nơi tôi đã liều mình ra đi 30 năm trước. Trong không khí bàng bạc của tiết Xuân, bỗng dưng tôi chạnh lòng nhớ đến mấy đứa em lam lũ, rồi một tuần trước khi đi công tác, tôi quyết định sẽ lấy mấy ngày phép ông xếp cho để về thăm chúng nó. Và tôi báo cho bạn bè Lasan rằng tôi sẽ đại diện chúng nó đến thăm người bạn cũ, thằng Phan. Một công đôi ba việc, tôi hân hoan lên đường.
Gặp lại mấy đứa em sau 30 năm xa cách, tôi bùi ngùi ôm lấy chúng. Nỗi nghẹn ngào của tình cảm ruột thịt chia ly vì tình cảnh nghiệt ngã của đất nước đùn lên khóe mắt. Con em tôi đôi mắt đỏ hoe nhìn thằng anh cả một cách lạ lẫm. Tôi trắng, chúng nó đen. Tôi ước giá chúng tôi chung một màu xám vẫn hay hơn hai màu tương phản. Tôi ôm mấy đứa cháu vào lòng, thêm một thế hệ èo uột ở vùng đất đỏ quạnh phù sa nhưng chúng gắng vươn lên – mỗi ngày – bằng số vốn liếng chữ nghĩa và sự giáo dục từ khuôn mẫu của gia đình.
Ở chơi với mấy đứa em được hai ngày, tôi nhắc thằng em chở tôi đến thăm Phan, người bạn ở cách đó không xa, trên cánh đồng xanh ngát hoa màu. Ngồi trên xe gắn máy, thằng em tôi bảo anh Phan bây giờ không còn ở ngoài bìa ruộng, sát quốc lộ nữa. Gia đình đã dọn vào sâu trong nương rẫy. Ngồi trên xe, tôi hình dung được thằng bạn, người thấp, khá to con đã cùng tôi ngồi mòn ghế ở trường Lasan suốt mấy năm trung học. Sau năm 75, tôi ngồi lại ghế nhà trường với mặc cảm lưu dung. Nhà nước dạy chúng tôi hai môn, chính trị và kinh tế xã hội chủ nghĩa. Những tuần giữa hai niên khóa, tôi về Long khánh phụ với gia đình trong việc canh tác. Tôi xách cuốc đến sào đất làm cỏ lúa và nhìn sang bên thấy dáng quen quen, nhìn kỹ thì nhận ra Phan. Nó cũng nhận ra tôi. Năm đó là năm đầu tiên của chu kỳ đói kém nhất của cả nước, năm 1977. Bẵng đi năm sáu năm sau lớp 12 tôi không gặp lại Phan, thế mà chúng tôi nhận ra nhau ngay. Hình như những mẩu kỷ niệm thuở mới lớn vẫn chưa phai mờ trong ký ức. Nói chuyện dăm ba câu rồi chúng tôi cắm cúi làm việc, miệt mài với vụ lúa hè thu. Cày xới nỗi lo âu của một sào ruộng phải gặt hái cho đủ để chi dùng trong gia đình suốt cả năm đã lấn át hết mọi háo hức khi gặp lại bạn bè. Đứng chống cuốc nghỉ mệt, đón một chút gió làm dịu cơn nóng đổ lửa trên đầu tôi nhìn sang bên và thấy Phan kiên nhẫn với luống đất, vồng khoai. Tôi thở dài khi thấy tương lai của chúng tôi thật mù mịt. Hai thằng, bỏ bút nghiên quay lại với đồng ruộng, chẳng biết van xin đủ để đồng ruộng sinh hoa màu nuôi sống gia đình không? Thỉnh thoảng, vào những buổi trưa mệt nhọc bên ga cơm trộn bắp với miếng cá khô, chúng tôi thường có dịp ngồi hút với nhau một điếu thuốc lào dưới bóng cây không đủ che cái nắng rát mặt vào giữa mùa hè. Bâng quơ vài câu chuyện cũ, chứ chúng tôi cũng chẳng biết nói gì thêm. Rồi tôi rời bỏ mảnh đất đó, với ước mơ thở hít không khí tự do và mong ước làm một cái gì để giúp cho gia đình hai bữa cơm… Thấm thoát, thế mà đã 30 năm.
Xuống xe bên vệ đường quốc lộ 1, thằng em tôi nói phải đẩy xe qua mấy mẫu ruộng, vào sâu phía trong xa mới đến nhà Phan. Tôi nhận ra sào ruộng của gia đình giờ đã sang tay, lúa mọc xanh um. Mảnh vườn của nhà Phan cũng trồng hoa màu nhưng không biết đã đổi chủ chưa. Từ quốc lộ vào nhà Phan không có đường, cho dù là đường đất. Phải dắt xe men theo bờ ruộng, gấu quần và đôi giày tôi đã lấm bùn đất đỏ quạnh. Mãi rồi cũng đến nơi. Một căn nhà gạch mọc chơ vơ ngay giữa cánh đồng, bao bọc bởi những hàng bắp mọc thẳng hàng. Đàn gà đang mải mê bới đất tìm mồi dưới tàng cây khá to tỏa bóng mát bên hông nhà. Chú mèo nằm mơ màng với đôi mắt lim dim trên bệ tường quét vôi đã loang lổ vì mưa gió. Con chó vàng quanh quẩn khịt mũi đánh hơi, cũng chẳng buồn sủa khi thấy người lạ. Tất cả đều yên ắng. Một sự tĩnh mịch dễ làm lòng người nao nao vì chạnh lòng nhớ đến một cái gì đó không rõ nét. Tôi ngoái nhìn đàng sau, mịt mù con đường quốc lộ nằm ngang đường chân trời, trên đó hình dáng những chiếc xe nhỏ li ti như những chú kiến khéo léo bò trên một sợi chỉ.
Dựng xe, tôi và thằng em đến bên cửa, gõ nhẹ lên mảnh gỗ tạp khá dày. Có tiếng chân người bước về phía cửa và giọng một người đàn bà, nhỏ nhẹ vừa đủ nghe:
- Ai đó?
Thằng em tôi lên tiếng:
- Có anh Phan ở nhà không chị?
Cánh cửa mở toang, để lộ hình dáng một người đàn bà mảnh khảnh, nước da ngăm ngăm, khuôn mặt hằn những vết nhăn. Cũng tiếng thằng em tôi:
- Có ông anh ở xa muốn gặp anh Phan, bạn bè trường Lasan ngày xưa.
Tôi gật đầu chào người đàn bà mà tôi đoán là vợ Phan:
- Chào chị, Phan với tôi là bạn học hồi ngoài Qui nhơn. Không biết Phan có nhà không chị?
Nét mặt bình thản, giọng người đàn bà mang âm hưởng vùng Bình định:
- Mời hai anh vào nhà, anh Phan đang làm ở sau vườn. Để tui gọi ảnh.
Rồi chị bước sâu vào phía trong bỏ mặc chúng tôi đứng tần ngần giữa căn phòng chật hẹp. Nền nhà tráng xi-măng trông khá sạch sẽ làm chúng tôi vội chạy trở ra cửa tháo đôi giày đã lấm bùn đất. Thật vô ý hết sức, tôi thầm trách. Bộ bàn ghế bằng gỗ nằm bên phải đếm đủ bốn chiếc và chiếc bàn dài, thấp lè tè. Một miếng gỗ dài gắn thẳng góc với bức tường làm thành bàn thờ, bên trên đặt cây thánh giá khá to. Hai bên cây thánh giá trưng hai tấm hình ông bà cụ – tôi đoán là cha mẹ của Phan – lộng trong khung gỗ với ngọn đèn đỏ bằng điện cháy leo lét, trông ảm đạm như một nỗi buồn câm nín nào đó ray rứt lòng người quá lâu. Góc trái dựng 2 chiếc xe gắn máy, bên cạnh lỏng chỏng thêm mấy chiếc xe đạp cũ. Trong nhà chỉ có vậy, đơn giản và đạm bạc. Cảnh vật bên ngoài đã yên ắng, trong nhà lại càng yên ắng hơn. Hình như mọi người đang chiêm niệm một nỗi đau nào đó nên không ai dám thốt nên lời. Cả hai chúng tôi rón rén ngồi xuống ghế chờ chủ nhà. Mãi lúc sau mới thấy bóng dáng người đàn ông từ nhà dưới bước về phía chúng tôi
. Tôi đứng dậy và mang máng nhận ra Phan nhờ ánh sáng từ khung cửa sổ hắt vào khuôn mặt đen sạm, chai lì vì sương gió.
- Phan phải không?
Người đàn ông, gọi là Phan đi vì tôi biết chắc như thế, nhìn ngơ ngác:
- Xin lỗi, anh là ai?
Tôi tiến lại gần Phan:
- Mày không nhận ra tao hả?
Thằng em tôi cười cười:
- Anh Nguyên bạn học với anh hồi xưa đó…
Và Phan reo lên:
- À… Nguyên… Nguyên. Đúng là Nguyên rồi. Mày đi đâu mà lạc vào nhà tao?
- Lạc cái gì mà lạc. Tao đi công tác ghé về thăm mấy đứa em. Nhân tiện đến thăm vợ chồng mày.
Khi hoàn toàn nhận ra tôi, thằng bạn có thời ngồi dưới gốc cây đu đủ hút thuốc lào, Phan vồn vã:
- Ngồi, ngồi đi…
Rồi quay vào nhà trong:
- Em ơi, nấu tí nước sôi pha trà.
Có tiếng “ừa” từ nhà dưới vọng lên. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện Phan, trên bàn nằm chơ vơ bình tẩu thuốc lào và chiếc bật lửa zippo bằng nhôm. Phan nhìn tôi:
- Mày đi lâu quá. Lúc mày vượt biên tao có nghe em mày nói. Rồi bận rộn với công việc nên tao cũng không hỏi thăm thêm. Thế mày định cư ở nước nào?
Phan ốm đi nhiều, ốm lắm. Nó là một trong những đứa khá to con ở lớp tôi, chỉ tội thấp người. Nước da đen sạm, tóc cắt ngắn rễ tre, Phan trông khác xưa nhiều. Nếu tình cờ ngặp nhau đâu đó, có lẽ tôi không thể nào nhận ra thằng bạn cũ. Thuở xưa, Phan cũng quậy, chọc phá bạn bè trong lớp. Giờ đây Phan ngồi ủ rũ, nét mặt nhẫn nhục, chai lì với gió sương. Vẻ liến thoắng, nhân nhẹn hoàn toàn biến mất hẳn. Tôi trả lời:
- Ở Mỹ… mày không biết chứ cả mấy tháng nay bọn tao cố gắng nối kết lại đám tụi mình. Qua internet, tao biết bạn bè bây giờ ở Đức, Canada… còn trong nước Mỹ thì ở rải rác ba bốn tiểu bang. Tao có lập một email gồm toàn bọn mình không à! Mỗi ngày gửi thư qua lại nói chuyện trên trời dưới đất…
Phan ngồi ngẩn ngơ cố che dấu một chút bối rối hiện lờ mờ trên khuôn mặt. Tôi chợt nhớ ra tôi đang nói chuyện với thằng bạn đang sống giữa ruộng đồng heo hút hơn 30 năm, gần như cách biệt với thế giới văn minh thành phố. Quá hứng khởi việc nối kết bạn bè tôi nói thao thao mà quên đi thằng bạn tôi không biết hoặc chưa hề nghe những danh từ lạ tai. Làm sao bạn tôi biết email là gì? Mà nếu tôi có dùng chữ vi-thư vị tất Phan hiểu và mường tượng nó ra làm sao. Tôi đổi ngay đề tài:
- Thế mày lập gia đình năm nào hở Phan?
Nét mặt thằng bạn tôi trở lại bình thường:
- Năm 1985, tao về lại quê tao ở Phù Mỹ. Gia đình hai bên đã quen biết nhau từ trước. Gia đình tao chạy từ Phù Mỹ vào định cư ngay trước nhà thờ Qui nhơn năm 65, chắc mày còn nhớ. Trở lại chuyện tao lấy vợ, về đó gặp lại bả rồi làm đám cưới. Bả theo tao về đây làm ruộng từ đó đến giờ.
Vừa lúc đó, người đàn bà bước ra với khay nước. trên tay. Chị đặt nhẹ lên bàn và rót nước ra ba tách trà tráng men xanh biếc. Phan nói với vợ:
- Em, đây là anh Nguyên, bạn anh từ lúc học ngoài Qui nhơn. Còn đây mày biết rồi, bà xã tao.
Tôi gật đầu chào:
- Chị ở ngoài tận Phù Mỹ sao? Tôi với Phan biết nhau khá lâu nhưng lại không hề biết quê nó ở mãi tận Phù Mỹ.
Vợ Phan dạ nhỏ rồi đứng tần ngần không biết nói gì thêm. Tôi vồn vã:
- Lâu lắm mới gặp lại Phan và thật hân hạnh được biết chị. Chị ngồi nói chuyện cho vui.
Nhìn nét mặt chị không được tự nhiên lắm, tôi đoan chắc thế nào chị cũng từ chối. Quả đúng như tôi dự đoán:
- Thôi, để em xuống dưới nhà lo cơm nước. Hai anh cứ tự nhiên.
Giọng chị bình thản, không vui cũng chẳng buồn. Khó mà đoán biết chị nghĩ gì. Vẻ ưu tư trên khuôn mặt chị choán hết mọi suy nghĩ về cuộc sống mà tôi đoán chắc chắn vất vả. Phan cũng chẳng buồn giữ người vợ ngồi lại. Hình như đó là truyền thống của đàn bà Việt nam bây giờ, không hề xen vào chuyện của chồng. Rồi chị quày quả quay lưng bước đi. Tôi quay sang Phan:
- Thế công việc của mày ra sao? Sào ruộng lần tao gặp mày còn không?
Phan thở dài:
- Bán lâu rồi, bán để lo thuốc men cho ông bà già.
- Thế hai bác giờ ra sao?
Giọng Phan chùng hẳn xuống:
- Mất lâu rồi… đã mười mấy năm.
Tôi hớp một ngụm trà, chợt nghe đắng chát trong miệng. Chẳng biết vì nghe tin cha mẹ của Phan đã mãn phần hay vì thằng bạn tôi quá khổ cực:
- Còn anh chị em mày có ở gần đây không?
Phan sửa lại dáng ngồi:
- Tao con cả, theo sau đến 9 đứa em. Mày biết đó, mấy năm đầu thật vất vả. Tao nghĩ đến nhiều đến trách nhiệm nên làm lụng cật lực. Làm ruộng thật vất vả mà chẳng bao giờ đủ. Vậy mà gói ghém cũng qua bữa, qua ngày. Bây giờ thì bọn nó lớn hết rồi, có gia đình và cũng ở quanh đây. Còn tao thì vừa làm ruộng, vừa làm công cho người ta. Cái gì cũng làm, miễn sao có tiền.
- Thế con cái mày?
- Tao được 5 đứa. Đứa đầu thì chết khi còn nhỏ, cũng vì không đủ tiền chạy thuốc thang cho nó. Thằng con trai thứ hai đã 26 tuổi. Rồi đến hai đứa sinh đôi và đứa con gái út. À! Ngày 10 tháng hai nó làm đám cưới. Thế mày có ở lại đến ngày đó không?
Giọng tôi buồn buồn:
- Tao đi công tác rồi ghé thăm mấy đứa em. Ngày mai tao phải bay về Mỹ rồi. Tiếc quá.
- Thế mày về có mấy ngày thôi sao?
Tôi không dám thổ lộ những suy nghĩ của tôi về đất nước này, nơi tôi đã rũ áo ra đi mấy mươi năm trước với mớ kiến thức nửa vời. Có những trăn trở về đêm trong giấc ngủ chập chờn, có nhiều băn khoăn cứ dằn vặt dai dẳng trong tâm trí mà tôi thấy chưa tiện về, ít nhất là lúc này. Thế mà tôi đã về, chỉ vì muốn gặp lại mấy đứa em. Tôi thở dài, nói dối:
- Tao phải về gấp vì chuyện của hãng cũng khá bề bộn.
Rồi lảng sang chuyện khác:
- Mày dọn vào căn nhà này lâu chưa?
- Lúc trước mày nhớ nhà tao nằm gần sào đất của mày. Sau khi bán đi, gia đình tao lui vào sâu trong này, may còn khoảnh đất đá ong, trồng trọt không thu hoạch được nhiều nên ông già tao quyết định xây nhà. Mới đầu là nhà tranh, mãi gần đây dành dụm được ít tiền nên tao xây lại bằng gạch.
- Nhà thờ có gần đây không Phan? Ngoài giờ làm việc, mày có tham gia giúp nhà xứ gì không?
- Đi len len trong rẫy ra đường cái rồi đến nhà xứ. Cũng không xa, đi bộ chừng nửa tiếng. Đi xe đạp thì mau hơn, chừng mươi lăm phút. Ngoài việc canh tác, tao đi làm công, ai gọi thì làm. Tao có thể làm hầu như bất cứ việc gì. Làm mệt thì lăn ra ngủ chứ tao không tham gia một công tác gì ở xã, hay ở nhà thờ.
Tôi tâm sự:
- Tao thuở mới qua cũng cắm đầu học rồi đi làm chứ không tham gia chuyện xã hội hay chuyện nhà thờ nhà thánh gì cả. Nhưng đến tuổi này, tao bỗng thấy mình nên đóng góp cho xã hội bằng trí óc và khả năng sẵn có, một hình thức trả lại một chút những gì xã hội đã cưu mang mình.
Phan thở dài:
- Thú thật với mày, từ ngày về đây tao mang nhiều mặc cảm lắm. Tao thấy thua sút hết mọi người nên tao thu rút lại, cố không giao thiệp với ai. Những năm đầu, xã họ mời tao làm việc nhiều lần, vì gia đình tao cũng có gốc cách mạng, nhưng tao từ chối thẳng. Với lại trách nhiệm gia đình quá nặng, phải lo cho 9 đứa em, ông bà già tao quá yếu không làm được gì. Tất cả đều trông nhờ vào tao và thằng em kế nên tao quyết không “ăn cơm nhà vác ngà voi.”
Tôi nói gỡ:
- Mặc cảm cái gì. Bỏ qua hết đi Phan ơi! Mày nói mấy năm đầu thì được chứ giờ này còn mặc cảm cái nỗi gì. Tao nghĩ mày phải hãnh diện vì những gì mày đã làm cho gia đình. Mày thay mặt hai bác để nuôi từng ấy đứa em khôn lớn. Tao không chắc sẽ làm được những gì mày đã làm, nếu tao còn kẹt lại trên mảnh đất này.
Có lẽ không muốn thổ lộ nhiều tâm trạng của mình, Phan lảng sang chuyện khác::
- Bây giờ cho tao biết vợ con mày thế nào?
Tôi kể cho Phan nghe thuở mới đến Mỹ cũng cực nhọc lắm. Vừa học, vừa lo kiếm tiền gửi về cho gia đình. Bây giờ mọi chuyện đã yên ổn, con cái vẫn đi học, hai vợ chồng may mắn vẫn có việc làm. Tôi nhắc đến bạn bè Lasan đang cố nối kết lại, và đã bắt được tin tức khoảng 11 đứa. Tôi nhắc đến tên một vài người bạn:
- Tao nghe nói thằng Nghiệp và Thắng có ghé thăm mày khoảng năm 95, 96 gì đó, đúng vào ngày mùng Ba Tết mà không gặp được mày.
- Đúng, tao có nghe bà xã nói lại. Hôm đó tao phải ra Phan thiết đi xúc phân…
Phan nói công việc xúc phân thản nhiên như chấp nhận một thực tại. Phân người hay phân súc vật tôi chẳng dám hỏi thêm. Tôi không nghe một chút chua cay than trách trong câu nói. Tôi cũng chẳng thấy một chút buồn phiền trên nét mặt. Cái thực tại nghiệt ngã phải đối diện hàng ngày khiến Phan lặng lẽ đón nhận hoàn toàn vì không có sự chọn lựa. Đành rằng việc nào cũng là việc, miễn sao đó là đồng tiền lương thiện nhưng sao tôi nghe lòng xót xa thương cho thằng bạn. Mùng Ba Tết, đáng ra phải là ngày nghỉ, thế mà Phan đi làm công xa nhà với công việc thật tầm thường. Tôi chợt nhớ đến một giờ Quốc văn ở trường Lasan, trích tiểu thuyết “Con Trâu” của Trần Tiêu, trong đó có đoạn người mẹ từ quê lên thăm đứa con gái đi ở đợ. Khi ông chủ nhà hỏi thăm, bà mẹ thuật lại chuyện thằng con trai ở dưới quê bị sừng trâu nhọn hoắt đâm rách nát bụng, ruột đổ ra thòng lòng. Bà kể lại với một giọng bình thản như Phan kể đi xúc phân làm công. Ông thầy Quốc văn giải thích là đau khổ đã làm chai đá lòng người. Con người tuy cảm nhận được đau khổ nhưng khi nó đến dồn dập, cảm xúc sẽ chết dần mòn và đến một lúc nào đó lòng người bỗng trở nên chai đá, dửng dưng trước đau khổ. Ông còn nói thêm đó là tình trạng tiêu cực nhẹ nhất về tâm lý, một cách thoát ly của cảm xúc. Và nếu nặng hơn, con người sẽ điên loạn để hoàn toàn từ chối khổ đau. Người điên không biết vui cũng chẳng biết buồn. Thằng bạn tôi không điên loạn vì nó đã thuần hóa được đau khổ. Và ít nhất nó còn biết vui khi thấy tôi đến thăm.
Tôi may mắn hơn đến được xứ người, kiếm được mảnh bằng và hoàn toàn chẳng bao giờ nghĩ đến một công việc hèn hạ như thế. Thế mà thằng bạn tôi sẵn sàng làm mọi việc để nuôi sống gia đình. Tôi khẽ rùng mình nghĩ nếu ngày đó tôi không vượt thoát được, có lẽ giờ này cũng phải cực nhọc như Phan. Nó và tôi có vốn liếng chữ nghĩa như nhau thế sao mảnh đời mỗi đứa giờ đây lại khác biệt đến thế? Tôi thoáng nghe cay cay ở khóe mắt. Cố kìm giữ cảm xúc, tôi rút vội trong túi ra bao thư:
- Tao về đây có vài ngày rồi lại đi. Tiếc rằng tao không có thì giờ với mày nhiều. Để lần khác, tao dẫn gia đình về chơi rồi ở lại với mày lâu hơn. Bọn tao chẳng có nhiều nhưng góp lại biếu vợ chồng mày chút đỉnh, gọi là quà Tết. Mong mày nhận lấy cho bọn tao vui.
Bao thư đựng hai trăm đô, không nhiều nhưng cả tấm lòng của bạn bè. Tôi kể tên bạn bè vẫn nhớ đến Phan; Trí, Mạo, Thịnh cao và Bình ở VN, Thắng và Mẫu ở Cali như tôi, Thịnh lùn ở bang Oregon, Mẫn và Nghiệp ở Đức, và Phong ở Canada. Bàn tay xương xẩu của Phan xòe ra đỡ lấy phong thư. Giong run run, Phan nói nhỏ cám ơn bọn mày. Tôi nghe chút nghẹn ngào trong hai chữ cám ơn, không biết vì cảm động hay tủi phận. Tôi hy vọng Phan thấy được tấm lòng của những thằng bạn may mắn hơn, chưa bao giờ phải vắt sức trên nương rẫy như Phan. Uống hết tách nước trà, tôi đứng dậy:
- Thôi, cho tao về. Tối hôm nay tao dùng bữa cơm cuối với gia đình mấy đứa em. Mai tao phải bay sớm.
Hình như Phan muốn nói gì rồi nghĩ sao lại thôi. Có lẽ Phan muốn mời tôi ở lại dùng bữa cơm nhưng lại nghĩ xa không biết thức ăn đạm bạc có vừa miệng tôi không nên ngần ngừ nửa muốn mời, nửa không. Thật ra, ăn chung một bữa cơm cuối với vợ chồng Phan thật không gì bằng nhưng tôi phải về với mấy đứa em. Tôi nói thẳng lý do đỡ cho Phan khỏi phải áy náy. Biết không giữ được, Phan quay vào nhà trong:
- Em ơi, ra đây đã.
Người đàn bà bước ra. Phan nhìn vợ:
- Mấy người bạn biếu vợ chồng mình chút quà ăn Tết.
Vợ Phan cúi đầu:
- Cám ơn các anh.
Rồi câm nín. Chị nói đúng lúc, đúng chỗ, không nhiều, không ít, chỉ vừa đủ để giao thiệp, để bày tỏ tâm tư, thế thôi. Tôi không hiểu đó là bản tính của chị hay là – cũng như Phan – đau khổ đã làm chai đá tâm hồn.
Tôi nắm chặt bàn tay Phan, nghiêng đầu ôm lấy vai thằng bạn. Có lẽ Phan không quen với lối từ biệt như thế này nên nó đứng yên không ôm lấy tôi nhưng tôi cảm thấy mối thân tình qua bàn tay chai nhám Phan đang siết chặt. Phan giữ lấy bàn tay tôi không rời, gặc gặc thật mạnh như muốn kéo về phía nó. Đưa nhau ra đến cửa, giọng Phan run run:
- Nhớ cho tao gửi lời… cám ơn và hỏi… hỏi thăm bọn nó nghe.
Giọng thằng bạn tôi ướt đẫm nức nở nhưng tôi biết nó cố kìm giữ cảm xúc. Nước mắt tôi rưng rưng và tôi cũng đang cố nén mối xúc cảm. Vội quay đi, tôi đi gần như chạy về phía chiếc xe dựng trên sân, cố không ngoái lại nhìn vợ chồng Phan. Thằng em tôi đẩy xe, tôi theo sau. Chiếc xe đi từ từ ra khỏi sân và mất dần vào đám ruộng hoa màu.
Nắng đã tắt hẳn phía sau đồi. Chiều đang xuống dần mang theo chút se lạnh của núi rừng. Đi được một quãng, tôi ngoái lại và thấy vợ chồng thằng bạn tôi vẫn còn đứng ở ngưỡng cửa. Thấp thoáng cánh tay gầy guộc của Phan vươn ra vẫy vẫy. Từ đàng xa, cánh tay Phan trông giống như que gỗ khẳng khiu của chiếc hình nộm được trồng giữa ruộng để đuổi chim muông. Chẳng bao lâu nữa, bóng đêm sẽ phủ chụp lên căn nhà của Phan nằm cô đơn giữa đồng ruộng mênh mông. Bóng đêm càng tô đậm nét những mảng tối trong tâm hồn của thằng bạn tôi.
Trên đường về, tôi không buồn bắt chuyện với thằng em, mải suy nghĩ về cuộc đời của Phan. Hình như hiểu được tâm trạng của tôi, nó cũng yên lặng lái xe không gợi chuyện. Sức sống của Phan đã bị vắt gần kiệt trên những cánh đồng để nuôi sống gia đình. Tuổi đã gần sáu mươi, Phan còm cõi với những ưu tư của một đời người. Mặc cảm và khổ cực đã khiến Phan cằn cỗi trước tuổi. Có lẽ cho đến ngày nằm xuống, Phan vẫn miệt mài trên nương rẫy, mồ hôi trộn với ngậm ngùi, thịt da phơi dưới ánh nắng chói chang của ngày tháng mệt nhoài.
Ông lão dưới ruộng đi bừa,
Là con ông lão ngày xưa đi cày.
Tôi thầm mong chính quyền Việt nam biết nâng đỡ giới nông dân lam lũ như bạn tôi hầu trên những cánh đồng không còn nỗi khắc khoải như thuở nào.
Hà Ngân