Ngày thi gần kề.
Tôi học hành dở ẹt, nhưng lại “quá thông minh” để “suy ra” được rằng: Rực rỡ một tấm thảm vàng vỏ chuối, đang lót dài đón tiếp tôi trên con đường ứng thí.
Vài tuần nữa, bị trượt ngã, Nha Trang- Đồng Đế là nơi duy nhất tôi phải “a-lê”. Tôi lo lắng. Tuy nhiên, vì “lo một, lười mười” nên sách toán Hình học Không gian của Nguyễn Xuân Vinh đã bị tôi xếp lại.
Bỏ ngủ trưa, một mình, như thằng khùng, tôi lang thang dưới nắng chang chang của trời giữa hạ.Trường Cường Để đã sừng sững trước mặt, tôi chẳng hề hay biết. Cánh cửa phụ bên trái cổng trường nửa mở, lặng lẽ đón chào tôi.
Hằng năm, hè đến, nắng vàng gắt xua đi cái nhộn nhịp đầy áo trắng của sân trường. Ngoài sự yên tĩnh bình thường vào mỗi hè, sân trường tôi hôm nay còn ủ đầy sắc thê lương vì ảnh hưởng nặng đến khói lửa chiến tranh. Hàng cây non mới trồng giữa sân trường có cố lung lay cành lá theo cơn gió nhẹ, cũng chẳng làm cho cảnh trường vắng lặng được sống động hơn được chút nào.
Tôi ven theo hành lang gạch bông phủ đầy bụi hồng bay lên từ sân đất màu đỏ nhạt. Nhìn xuyên qua những song lá sách để thấy những băng bàn ghế dài mòn nhẵn mà mỗi băng đủ chỗ cho năm chúng tôi và bàn ghế của thầy cô bơ vơ nép mình bên trái để nhường chỗ cho chiếc bảng đen lớn được treo bên trên bục gỗ dài.
Bảng đen giờ này, tuy không một vết phấn nhưng ẩn dấu thật nhiều con số, nốt nhạc, chữ Pháp, chữ Anh, hình vẽ, lời thơ, đoản văn, … mà thầy cô đã cố truyền đạt cho chúng tôi.

Suốt đời tôi chỉ biết làm phật lòng thầy cô. Thầy cô giảng giải nhiều, tôi chẳng hấp thụ bao nhiêu.
Thầy Nguyễn Kim Ba, thầy Vương Quốc Tấn thường xuyên dò bài nên tôi nhớ được một công thức một: “độ F bằng độ C nhân một phảy tám rồi cộng cho ba mươi hai”.
Thầy Nguyễn Phụ Chính, thầy Châu Văn Thuận dạy hết mấy cuốn “Mauger”, tôi cũng chỉ nhớ được vài tên Hélène, Jean, Marie và câu “C’est la vie” để than thở hoặc tự an ủi khi nhìn thấy một sự việc xảy ra ngoài ý muốn.
Thầy Hoàng Hữu Dũng truyền hết cuốn “English for Today” nhưng tôi chỉ hiểu và bập bẹ theo Brian Hyland được mỗi một câu: I don’t want to say goodbye for the summer, mỗi khi hè đến.
Cô Nguyễn Thị Ngọc Diệp tập tôi làm quen với vần điệu, cho tôi biết thơ hay của Xuân Diệu nhưng chỉ đủ để làm tôi khù khờ suy đoán: Biệt hiệu “Xuân Diệu” có thể từ “Xuân Dịu” (mùa Xuân dịu mát) mà ra.

Lúc nào tôi cũng ước ao đầu óc trống rỗng của mình được che kín đáy bằng một lớp ý tưởng, dù là thật mỏng. Tôi bắt chước Xuân Diệu sửa đổi hai chữ “Đông Giá” thành “Đông Dá” để làm biệt hiệu với niềm hy vọng: thơ của Đông Dá sẽ không thua xa thơ Xuân Diệu. Sau thời gian dài, tôi vẫn không nặn được câu thơ nào, mới chợt tỉnh ra rằng bút hiệu chẳng tạo được ý thơ.

Thầy Hồ Sĩ Duy trầm bỗng và lưu loát, thường đưa cả lớp lâng lâng lơ lửng giữa vòm trời trong sáng của thơ văn. Chỉ có tôi, luôn là đà trong đám mây xám ngắt, để rồi chỉ biết bắt đầu để ý đến mùa thu mà vẫn chưa hiểu nổi được cái huyền diệu của nó.

Tôi bắt đầu để ý đến mùa thu dù tôi yêu thích mùa xuân, vì xuân mang đến an nhàn vui vẻ đầy lòng người cùng với sắc màu hoa lá ngập khắp nẻo; dù trước đây tôi thường hững hờ lúc thu đến và măc kệ thu đi. Nhưng tôi lại nôn nao đón xuân tới và tiếc nuối nhìn xuân qua. Và dù đã mấy mùa thu qua tại Quy Nhơn, có lẽ tôi không để ý nên chưa bao giờ tôi thật sự chứng kiến cảnh lá vàng rơi nhưng lại thường xuyên thấy gió đập lá xanh rơi xuống rồi vàng.

Không để ý đến mùa thu sao được khi Chế Lan Viên cố tình chận lối mùa xuân phơi phới của tôi:

Ai đâu trở lại mùa Thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây đem chắn nẻo xuân sang.

Làm ngơ sao được khi nghe Lệ Thu: Với bao tà áo xanh, đây mùa Thu …, để mở đầu cho một bản nhạc hay?
Không chú ý sao được khi đọc: Hằng năm cứ vào cuối Thu lá ngoài đường rụng nhiều …, câu đầu tiên của một đoản văn mà ít ai quên được?

Huyền diệu của thu có lẽ vì mùa thu bao gồm rất nhiều mùa, trong đó có mùa gặp gỡ, mùa hẹn hò, mùa yêu đương và cả mùa chia ly nữa.
Huyền diệu của thu cũng có thể vì thu tạo thật nhiều thu, kể cả thu quyến rũ, thu cảm, thu sầu và thu …chết.
Huyền diệu của thu cũng rất có thể vì tôi chưa bao giờ từng nghe: “Yên giấc ngàn xuân!”, “muôn đông!”, hay “vạn hạ!” để làm lời chúc cuối đến những ai chẳng may từ giã cõi đời.

Tuy nhiên thu đến, thu đi, và rồi thu có về lại đi chăng nữa, cũng chẳng làm thay đổi được màu sắc của lá tre. Tôi chưa bao giờ từng thấy một “lũy tre vàng” vào mùa thu. Khác với lá tre, phần nhiều các loại lá khác đều có hình dáng của trái tim. Trái tim cũng có hình dáng của …trái tim, nhưng thật lạ lùng, khi thu đến, ông thĩ sĩ này nói: lá vàng rồi rơi, còn ông nhạc sĩ kia thì lại bảo: bao trái tim vương màu xanh mới. Có phải đây là một huyền diệu nữa của mùa thu?

 Hồ Sĩ Đình

Viết bởi Hồ Sĩ Đình Chủ nhật, 13 Tháng 9 2009 09:23
trích từ "Đường cũ, Phố xưa”, đăng trên ĐS CĐ-NTH 2009
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.